Cù Lao Phố chính thức sát nhập vào nước Đại Việt ta từ năm Kỷ Mùi (1679). Khi ấy, dưới đời chúa Hiền Nguyễn Phước Tân, Trần Thượng Xuyên dẫn ba ngàn quân tướng nhà minh chạy về phương
Nam. Đến vùng nước mênh mông, cây cối xanh tốt nai ăn cỏ từng đàn trên bờ, cá bơi lềnh mặt nước, đất lành chim đậu, Trần Thượng Xuyên cho dừng quân tại ngã ba sông này và lập ra xã Thanh Hà, có nghĩa là sông nước trong.
Cuộc di dân với quy mô lớn này đã để lại mảnh đất Cù Lao Phố nhiều di sản quý báu, một trong di sản ấy còn tồn tại đến ngày nay là chùa Ông. Chùa Ông nguyên thủy là miếu Quan Đế, thờ Quan Công và các vị tổ của các nghề cổ như: nghề mộc, nghề nông, nghề đá. Ngày nay chùa Ông còn có tên chữ là Thất Phủ Cổ Miếu. Đâylà ngôi chùa ông nội của Trịnh Hoài Đức xây dựng trước nhất ở miền
Nam vào khoảng năm 1684.
Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc hình chữ khẩu. Bên ngoài chùa là cả một công trình độc đáo các tượng gốm men xanh về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình tượng ông Nhật bà Nguyệt…Thêm vào đó, các bức tượng bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạc đã tạo nên kiểu dáng và hình thức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa.
Trong vòng vài mươi năm nhờ tài tháo vát, Trần Thượng Xuyên cùng đồng bào Hoa – Việt mở mang đường sá, xây nhiều phố phường, lập thương cảng sầm uất. Cảnh phồn thịnh của Cù Lao phố lúc bấy giờ được sách Đại Nam, nhất thống chí ghi lại: Nhà ngói, vách vôi, lầu quả đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm đậm và phân hoạch nhai lộ: Nhai lớn nằm phố giữa lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh
Trong đoàn người theo Đức ông Trần Thượng Xuyên ngày ấy, có một số người nước Sùng, một nước chư hầu thời cổ đại ở phía Bắc Trung Quốc bị đày xuống Quảng Đông, khi nhà Thanh cai trị, họ chạy theo Trần Thượng Xuyên vào Đồng Nai, Người Việt họi họ là người Hẹ, nhưng cư dân này có nghề làm đá, họ là những người đục đá lát đường cho Cù Lao Phố. Nghề đá truyền dân cho người Việt.
Làng đá Bửu Long là làng nghề thủ công truyền thống lâu nhất ở Đồng Nai, có tồn tại hơn 300 năm nay. Thời gian sau những người Việt vùng Ngũ Quảng theo chân Lê Thanh Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá vùng đất này. Một số người gia nhập vào đội quân của Họ. Ngày nay còn những người miệt mài thổi linh hồn vào tảng đá vô tri đề lưu giữ chút dấu tích của người xưa.
Chúng tôi tìm về nơi người xưa đã lấy đá tạo nên thành phố đầu tiên ở vùng đất này đó là một hồ nước xanh ngát. Theo lời người dân Cù Lao Phố nước này ngày xưa vốn là núi đá do quá trình khai thác lâu ngày mà núi biến thành hồ như ngày nay.
Cuộc di dân đến Cù Lao không chỉ tạo ra vùng Nông Nại đại phố sầm uất, mà còn để lại cho đất nước những con người xuất sắc. Và một trong số đó Trịnh Hoài Đức, người đã để lại tác phẩm bất hủ Gia Định thành thông chi.
Trịnh Hoài Đức sinh năm Ất Dậu – 1765 tại (Bình Trước) Biên Hòa, tự Chỉ Sơn hiệu Cẩn trai năm 1775, cha ông qua đời khi ông 10 tuổi, mẹ ông đem con về trấn Phiên An (tức Gia Định) sinh sống, đến năm 1782, bà cho con đến thọ giáo nhà giáo dục nổi tiếng thời bấy giờ là Võ Trường Toản, khi quân Tây Sơn vào đánh đất Gia Định, ông lánh lạn sang Chân Lạp (tức là Campuchia ngày nay). Năm 1788, ông thi đỗ và được Nhà Nguyễn bổ chức Hàn lâm viện chế cáo, ngày càng được vua Gia Long trọng dụng. Ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình Nhà Nguyễn và thẳng tiến trên hoạn lộ: Tri huyện phủ Tân Bình, Đông cung thị giảng lo việc giảng dạy cho hoàng tử. Rồi được phong hiệp bộ thượng thư. Thượng Bộ Hộ, thượng thư Bộ Lại, Tổng Trấn Gia Định…Có thời Trịnh Hoài Đức cử làm thượng thư của cả hai bộ, Bộ Lại và Hộ Binh. Nhiều lần, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.
Ông mất năm Ất Dậu (1825), hưởng thọ tròn 60 tuổi. Vua Minh Mạng vô cùng thương tiếc, truyền bãi chầu 3 ngày, truy phong Thiếu phó cần chánh diện đại học sĩ. Thi hài ông rước từ kinh đô Huế vào Biên Hòa, do Hoàng thân Miên Hoàng trực tiếp đứng ra tổ chức rồi đưa về tận quê hương Bình Trước an táng.
Ghi nhớ công lao to lớn và tấm gương thanh khiết của Trịnh Hoài Đức, trải ba người đời dân và tỏ lòng tôn kính và biết ơn ông.
Sinh thời, làm quan to nhưng Trịnh Hoài Đức nổi tiếng thanh liêm, suốt đời sống thanh bạch, mang cốt cách của nhà nho, nhà nghệ sĩ lớn, cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, Trịnh Hoài Đức lập ra nhóm Bình Đường, được người đời xưng tụng là Gia Định tam gia ông để lại hai tập thơ: Cấn trai thi tập và Bắc sứ thi tập, làm trong thời gian đi sứ Trung Quốc.
Khi ông mất, theo ước nguyện của ông, di hài được an táng tại quê mẹ. Tương truyền, người bạn của Trịnh Hoài Đức là ngô Nhơn Tịnh, vốn lòa nhà địa lý giỏi đã chọn thế đất đẹp có dòng suối bao quanh xanh mát chảy ra hồ nước trong vắt để làm nơi yên nghỉ cho Trịnh Hoài Đức. Ngay nay con suối biến mất, thay vào đó là cảnh phố xá, nhưng bờ hồ nơi ông nằm nhìn ra vẫn còn dù chẳng thể đẹp như ngày xưa.