Làng nghề đá Bửu Long nổi tiếng ở Biên Hòa do cộng đồng người
Hoa bang Hẹ đến tạo dựng. Từ khi hình thành cho đến nay, những sản phẩm đá của
làng nghề Bửu Long, đặc biệt là các công trình, tác phẩm mang tính nghệ thuật
điêu khắc của làng nghề đã có mặt nhiều nơi trên vùng đất Nam Bộ. Những sản phẩm
từ những bàn tay nghệ nhân làng đá Bửu Long xuất hiện trong các thành tố kiến
trúc chủ yếu từ những công trình kiến trúc tín ngưỡng cổ xưa như Thất phủ cố miếu
(miếu Quan đế), Thiên hậu cổ miếu (miếu Tổ sư nghề đá)…cho đến các sản phẩm nghệ
thuật, trang trí, kiến trúc nhà ở, thờ tự, tượng đài hoành tráng hiện nay.
Hành trang đến với vùng đất phương Nam của nhóm lưu dân người
Hoa ngoài sự cần cù, khéo léo trong buôn bán để mưu cầu cuộc sống no ấm, họ còn
mang trong tâm thức mình hình ảnh của tổ tiên, thần thánh, tập tục, tín ngưỡng.
Do vậy, khi đã ổn định và thành công trong cuộc sống, người Hoa xây dựng nhiều
ngôi chùa, đền miếu để tỏ lòng thành, ghi nhớ công lao đối với tổ tiên, phúc thần.
Họ quan niệm rằng, chính tổ tiên, thánh thần đã giúp đỡ, chở che cho cộng đồng
người Hoa trong suốt chặng hành trình đầy hiểm nguy và con đường lập nghiệp nơi
vùng đất mới.
Tín ngưỡng thờ Quan thánh đế quân với nhiều tên gọi khác
nhau đều để chỉ nhân vật lịch sử thời Tam quốc là Quan Vân Trường, được cụ
thể hóa bằng các đền, chùa khá phổ biến trên vùng Đồng Nai. Nói cách khác, có
thể căn cứ vào sự tồn tại hoặc tàn tích của những ngôi miếu hoặc chùa thờ Quan
công là nhận diện được nơi có cộng đồng người Hoa sinh sống trong lịch sử 300
năm của xứ Đồng Nai – Gia Định. Ở Đồng Nai, tồn tại nhiều ngôi chùa Ông, mà điển
hình là các địa điểm Phước Thiền, Bến Gỗ, Cù lao Phố, Bến Cá. Hiện nay, kiến
trúc hiện tồn của chùa Ông chỉ còn ở Phước Thiền, Bến Gỗ và Cù lao Phố. Ở Bến
Cá, ngôi đền thờ Quan công đã bị tàn phá bởi chiến tranh. Chùa Ông ở Cù lao Phố
là một kiến trúc điển hình, là cơ sở văn hóa tín ngưỡng được xây dựng sớm và có
quy mô lớn của người Hoa. Theo một số sử sách (Đại Nam nhất thống chí, Gia Định
thành thông chí), đây là một miếu điện nguy nga ở phía nam châu Đại Phố huyện
Phước Chánh (tức Biên Hòa ngày nay), trông ra sông Phước Long (sông Đồng Nai),
đền đài rộng rãi, tráng lệ với hai Hội quán Phước Châu và Quảng Đông. Di tích
được xây dựng vào năm 1884 do bảy phủ người Hoa đóng góp công, của (Phước Châu,
Chương Châu, Truyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba). Vì vậy,
chùa Ông còn có tên gọi là “Thất phủ cổ miếu”. Kiến trúc chùa được xây theo lối
chữ khẩu, bố trí kiểu “nội công ngoại quốc”. Trong chùa lưu giữ một tập hợp tượng
thờ đông đảo về hệ thống thần linh chính yếu của cộng đồng người Hoa: tín ngưỡng
thờ Quan công, thờ Thiên hậu, Mẹ sanh Mẹ độ, Phúc thần, Tài thần... Di tích là
một công trình kiến trúc độc đáo, dù đã qua bao đợt trùng tu. Hiện nay, mặt tiền
chùa được trang trí đặc sắc bởi những quần thể tượng gốm, đá liên hoàn sắc sảo,
thể hiện những lễ hội của người Hoa: hát tuồng, hát bội, múa hát cung đình, đả
cầu... Mái hiên di tích dựng hai tượng gốm ông Nhựt, bà Nguyệt tạo nên
nghi dung đặc trưng của một ngôi chùa Hoa, bên cạnh những thành tố nghệ thuật
điêu khắc gỗ, đá... thể hiện qua các hoành phi, liễn đối cùng góp phần tạo nên
giá trị nghệ thuật của di tích. Vượt lên trên cái hiện tồn của kiến trúc di
tích, chùa Ông hay Thất phủ cổ miếu là cái tâm, cái lòng thành của cộng đồng
người Hoa muốn hướng đến: đó là lòng chung thủy, danh dự, sự công minh chánh trực,
lòng độ lượng bao dung, nghĩa khí... mà chính họ chọn Quan công là vị đại diện
thần linh để tôn thờ.
Bên cạnh tín ngưỡng thờ Ông qua đền chùa, cộng đồng người
Hoa còn thờ các vị nhân thần khác có gốc tích từ quê nhà. Di tích Phụng Sơn tự ở
thành phố Biên Hòa là một điển hình của người Hoa bang Phúc Kiến. Họ tôn thờ Quảng
Trạch tôn vương, một con người xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ nhưng có chí hướng
ở vùng Phụng Sơn, Nam An, sống giúp dân dẹp loạn, chết oai linh hiển hách, bảo
vệ dân làng nên người Hoa Phúc Kiến suy tôn ông lên bậc thánh, gọi là Quách
Thánh Vương.
Đồng thời với tín ngưỡng thờ Ông, cộng đồng người Hoa còn
tín ngưỡng thờ Bà – mà nhân vật được tôn thờ là bà Thiên hậu. Hầu hết các di
tích tín ngưỡng của người Hoa ở Đồng Nai đều có miếu thờ Bà bên cạnh. Nguyên ủy,
bà Thiên hậu là một nhân vật tài năng nhưng chết trẻ và thường hiển linh cứu độ
người dân đi biển khi gặp dông bão, tai ương. Có lẽ, cảm nhận được sự linh ứng,
và cũng có thể quan niệm chính Bà đã độ trì giúp cho họ trong chuyến vượt biển
tìm đến nước Nam mà cộng đồng người Hoa ở vùng đất Đồng Nai đã không quên lập
miếu thờ Bà ở Đồng Nai. Miếu hoặc chùa thờ Bà Thiên hậu khá phổ biến, nhưng có
lẽ di tích tiêu biểu và quy mô thì phải kể đến Thiên hậu cổ miếu (còn có tên gọi
chùa Bà) ở Bửu Long, thành phố Biên Hòa. Nơi đây vốn là một ngôi miếu nhỏ của
những người Hoa bang Hẹ làm nghề đá tạo dựng để thờ tổ sư Ngũ Đăng. Sự linh ứng
của Bà Thiên hậu thu hút nhiều người tôn thờ nên người Hẹ đã rước Bà vào phối tự
tại di tích. Đây là một công trình kiến trúc khá độc đáo được phối hợp bởi nhiều
thành tố xây dựng nhưng chủ yếu vẫn là kiến trúc đá, được thể hiện tinh xảo bởi
các nghệ nhân của người Hoa bang Hẹ.
Cùng với thời gian, những dấu tích của cộng đồng người Hoa
những ngày đầu mới định cư ở Đồng Nai gần như không còn nhiều. Thế nhưng, trong
mạch nguồn của cuộc sống trên vùng đất này, thời kỳ quá khứ ấy luôn có bóng
hình trong cuộc sống hiện tại, và từ lâu đã tạo nên một phần nguồn chảy không
bao giờ tắt. Mà sự lưu giữ, khắc ghi ấy là cả một ký ức sống động của cả
một cộng đồng, được bao thế hệ lưu giữ, nối truyền.
Thế hệ những người Hoa đi trước đã ra đi và những gì họ tạo
dựng buổi đầu đã mai một với thời gian, âu cũng là cái lẽ thường tình của
vạn vật. Nhưng cái còn lại chính là những hình ảnh, giá trị tốt đẹp của cuộc sống
luôn được khắc ghi trong lòng của các thế hệ nối tiếp nhau.
Nhân vật lịch sử Trần Thượng Xuyên - người có công nhất
trong việc dẫn đoàn người Hoa nhóm Cao, Lôi, Liêm đến định cư ở Đồng Nai, được
suy tôn, ngưỡng vọng không chỉ riêng người Hoa mà còn cả người Việt. Ngôi chùa
làng Thanh Lương khiêm tốn đối diện phía Tây Cù lao Phố (phường Bửu Hòa, thành
phố Biên Hòa) là nơi thờ Phật nhưng vẫn còn lưu thờ bài vị về vị tướng quân có
công khai phá vùng đất này. Di tích đình Tân Lân là cơ sở tín ngưỡng của dân
làng vùng đất Biên Hòa tôn thờ phúc thần Thành hoàng Trần Thượng Xuyên.
Di tích là công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo mà sự thể hiện là mảnh tượng
gốm trang trí trên mái nóc tiền đình. Đó là kiểu kiến trúc dung hợp Hoa - Việt
được tạo tác bởi bàn tay khéo léo của những người thợ Biên Hòa. Đình Tân Lân
còn có tên gọi Đền thờ Trần Thượng Xuyên là di tích kiến trúc nghệ thuật và
danh nhân lịch sử mà giá trị của nó đã được nhà nước liệt hạng. Hằng năm, các
ngày lễ vía ở đền thờ đã thu hút đông đảo người dân ở Biên Hòa đến dự với lễ thức
trang nghiêm và hội hè náo nhiệt.
Dấu ấn của người Hoa còn thể hiện trong các kiến trúc chùa cổ
ở Đồng Nai mà chủ yếu là vùng Biên Hòa. Những ngôi danh lam Bửu Long, Đại Giác,
Long Thiền hay Kim Cang của vùng Bến Cá tương truyền do tổ sư Nguyễn Thiều và
các đệ tử khai sơn lập thạch. Vấn đề niên đại tạo dựng của chùa chiền hay chủ
nhân khai mở vẫn còn đó. Nhiều điều cần tìm hiểu thêm, song phải xác định rằng:
ảnh hưởng của dòng Phật giáo truyền từ phương Bắc theo bước chân của những nhóm
người Hoa qua các thời kỳ vẫn để lại những nét tiêu biểu trong sự hợp dung kiến
trúc, bài trí tại các di tích cổ ở Đồng Nai dẫu đã qua bao lần trùng tu, trùng
kiến.
Tất cả mọi thứ rồi sẽ qua đi, kể cả con người. Song, con người
“trường tồn” có lẽ nhờ vào sự truyền giữ và phát huy của ý thức từ thế hệ này
qua thế hệ khác. Nói một cách khác, nhóm cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai đã hơn
ba thế kỷ qua cũng không là một ngoại lệ. Họ đã để lại dấu ấn của mình trên
vùng đất này bằng chính con người của cộng đồng mình.
Cộng đồng người Hoa đến với Đồng Nai buổi ban đầu đầy khó
khăn gian khổ trong cả một chặng đường dài khai khẩn và họ đã nhanh chóng thích
nghi với hoàn cảnh, môi trường để vươn lên, khẳng định vai trò của mình trong sự
nghiệp phát triển của vùng đất này. Nghề làm gốm, lu của nhóm người Hoa ở Tân Vạn,
làm nghề đá của bang Hẹ ở vùng Bửu Long hay những phố chợ buôn bán ở Phước Thiền,
Bến Gỗ... đã minh chứng cho sự thích ứng của người Hoa. Không chỉ có những thế
mạnh về kinh tế, người Hoa còn có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến nên một số
người tài giỏi đã được các chúa Nguyễn tin dùng, ban phong những chức vị quan
trọng, trở thành sứ thần, trọng thần của triều đình, gánh vác những trọng trách
của xã hội như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định với huyền thoại về
“Gia Định tam gia thi” hay “Gia Định tam hùng” Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh, Châu Văn
Tiếp đầy nghĩa khí và tinh thần thượng võ trung quân, giúp chúa Nguyễn tạo dựng
cơ đồ từ vùng đất Đồng Nai – Gia Định.
Đi tìm dấu ấn của cộng đồng người Hoa ở vùng Đồng Nai là một
cuộc hành hương mang ý nghĩa thiêng liêng. Qua những dấu tích kiến trúc, văn
hóa vật chất hiện tồn và cả những nét sinh hoạt văn hóa thông qua các tập tục,
tín ngưỡng, ngành nghề, lễ hội... cộng đồng người Hoa đã tạo nên một sức sống
mãnh liệt trong dòng chảy của lịch sử xứ Đồng Nai. Chính trong dòng chảy ấy,
người Hoa đã hòa vào mạch của một nguồn nước khi chọn Việt Nam, chọn Đồng Nai
làm đất sống. Từ thân phận của lưu dân kiều ngụ trở thành công dân của quê
hương mới, qua nhiều thế kỷ trộn hòa dòng huyết quản Việt – Hoa, người Hoa đã
dung hòa nền văn hóa mà họ mang theo vào văn hóa Việt. Tiêu biểu cho sự kết hợp
hài hòa của hai dòng văn hóa ấy là nhân vật Trịnh Hoài Đức. Một con người mang
trong huyết quản của mình dòng máu Hoa - Việt. Cuộc đời và sự nghiệp của ông trở
thành một nhân cách lớn đáng cho nhân thế noi theo. Xứ Đồng Nai quê hương ông
là nơi ông chọn để trở về trong giấc ngủ vĩnh hằng của cuộc đời.
Những dấu tích một thời của người Hoa gần như ngày
càng mất đi tính bản nguyên nhưng dấu ấn của một cộng đồng vẫn còn đó. Và nó thực
sự được bảo lưu trong cuộc sống cộng đồng hiện tại dù đã trải qua bao biến động
của lịch sử. Vùng đất mới xa lạ trước đây giờ đã trở thành quá đỗi thân quen,
là quê hương thực sự.
Đến với một vùng đất, tìm về cội nguồn của một cộng đồng cư dân, không
chỉ là để hoài niệm với một quá khứ đã là dĩ vãng mà là sự soi mình vào trong
đó để nhìn thấy bước đi của tương lai.