Thủ tục thỉnh đèn lồng rất đơn giản nhưng mang đặc trưng văn
hóa của người Hoa. Tại nơi điều hành thỉnh đèn, BTC đặt chiếc bàn để mọi người
đến đăng ký, sau khi người thỉnh chấp thuận, hai bên ghi giá tiền trong biên nhận
và lưu sổ (để tiện việc niêm yết công khai danh sách những người thỉnh sau khi
lễ hội kết thúc). Người thỉnh cầm biên nhận đến nơi treo đèn, bộ phận giao nhận
kiểm tra, lấy đèn đúng với giá trị tiền ghi trong biên nhận và trao đèn kèm
theo một cây nhang và một bao lì xì lộc của Bà Thiên Hậu. Người thỉnh nhận đèn
đem vào miếu thắp nhang trước các khám thờ sau đó đem về nhà treo ở nơi trang
trọng nhất (thường là trên bàn thờ hoặc trước cửa ra vào). Tục thỉnh đèn cũng
là nét đổi mới trong lễ hội tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa bang Hẹ ở miếu
Tổ sư nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh về tinh thần cộng đồng. Một số đèn và cờ
được BTC tặng cho các miếu, chùa trong và ngoài tỉnh khi được mời về dự lễ. Hội
thỉnh đèn lồng là một trong những nghi thức trong Lễ hội làm Chay được nhiều
người hưởng ứng, đồng thời cũng đem lại lợi nhuận cao cho BTC trong việc tổ
chức lễ hội tại miếu. Sau khi Lễ hội làm Chay kết thúc, số tiền thu được ngoài
việc BTC chi cho các khoản như: thuê đạo sĩ, trang trí, nhang, đèn, trái cây,
tổ chức ăn uống…, số còn lại dùng cho việc mua nhang đèn hàng ngày phục vụ bá
tánh tới thăm viếng và việc tu sửa miếu.
- Lễ phóng thủy đăng:
Lễ diễn ra vào buổi chiều ngày 12 tháng sáu. Lễ này không
quy định cụ thể giờ; thời gian có thể sớm hoặc muộn tùy thuộc vào lúc xin keo
bà Thiên Hậu trước khi đi. BTC làm nghi thức xin keo Tổ và Thần trước các bàn
thờ trong miếu bằng các động tác vái lạy để chuẩn bị đi phóng đăng, phóng siêu
cho cô hồn. Pháp sư tụng kinh cầu siêu, thắp nhang vái lạy tứ phương xin các thần
cho đi phóng đăng cầu siêu. Hai bên kiệu gỗ, ngoài hai lọng đỏ còn có hai ngọn
thủy đăng lớn là hai đèn lồng trắng bằng giấy có dán hai chữ Hán “thủy đăng”
với ý nghĩa dẫn đường cho Tổ và các thần cứu độ chúng sinh trên sông nước. Xin
thần xong, một số người trong Ban tế thỉnh bát nhang có cắm ba cây nhang lớn và
một số nhang nhỏ và bài vị tượng trưng cho các chư thần đặt trước kiệu đi phóng
đăng.
Dẫn đầu đoàn rước là những người cầm cờ lễ hội, lân biểu
diễn, trống, bàn hương án, bát bửu. Pháp sư mặc áo vàng và 4 vị Đạo sĩ phụ tế
mặc áo đỏ, hai ngọn thủy đăng, lọng tre rước kiệu. Đi theo sau đòan rước là Ban
tế, BTC và đông đảo nhân dân cả người Hoa và người Việt. Không khí của đoàn nhộn
nhịp như các nghi lễ khác, mọi người nhập cuộc tinh thần phấn khởi. Lộ trình
đoàn rước từ miếu Tổ sư qua tỉnh lộ 24 theo con đường đất đỏ tới bến sông Tân
Thành[2]là địa điểm phóng đăng, phóng sanh. Tại
bến sông, BTC đã bày trí một đàn Chay bao gồm: bàn hương án, nhang, đèn cầy,
hoa tươi, trái cây, ba chung rượu. Đồ chay cúng tại đây bao gồm: bún gạo, tàu
hũ, củ cải muối, đậu que xào, đậu trắng (đây là năm món bắt buộc tương ứng với
ngũ hành), kiểm, bánh bao... Một đĩa thuốc rê, hai đĩa trái cây, một đĩa trầu
cau, một đĩa cơm, một chiếc đèn hoa. Trước bàn hương án thỉnh từ miếu người ta
đặt một con ngựa giấy màu vàng[3], đèn hoa, chim để phóng sinh cúng cô hồn.
Khi kiệu tới, đoàn tế thỉnh bát nhang có những bài vị của các vị Tổ, Thiên Hậu
và Quan Thánh Đế Quân đặt lên đàn Chay. Phía trước là một khoảng đất trống rải
giấy tiền bạc gồm 360 bộ áo giấy các loại, đủ màu sắc trải kín mặt đất, bên
cạnh là những nén nhang cắm dưới đất.
Đến giờ thượng đàn, vị Pháp sư thắp nhang vái tứ phương,
tung nắm nhang đang cháy xuống những tờ giấy vàng đã rải sẵn dưới đất khai hỏa,
vừa tụng kinh vừa lắc hai chuông nhỏ, tung giấy tiền ra phía trước kèm theo những
lời kinh cầu siêu độ, xua đuổi tà ma. Lễ phóng thủy đăng bắt đầu từ lúc Pháp sư
niệm chú trong kinh Địa tạng, những người đại diện là các Pháp sư và Ban Trị sự
thả những chiếc đèn hoa bằng giấy xuống sông. Cả bến sông lấp lánh những ánh
đèn trôi theo dòng nước. Kết thúc lễ phóng sinh, người ta thả chim sẻ lên trời,
thả cá trê, cá lóc xuống sông. Số con vật dùng để phóng sinh không quy định, nhiều
hay ít là tùy vào BTC, người ta quan niệm phóng sanh, giải thoát cho động vật
bị giam cầm tức là đã tích đức làm phúc để giải oan cho các cô hồn. Mặt khác,
đây còn là hành động chuộc lại nhữnh hành vi sai trái mà con người đã mắc phải
mong được các thần thánh hóa giải những điều xấu, những xui xẻo của dân làng
trong ba năm qua và cầu phúc cho những năm tiếp theo. Cuối cùng, Pháp sư đốt
ngựa giấy để Thủy long chứng giám sau đó nghênh kiệu trở về miếu, kết thúc nghi
lễ khoảng 17 giờ.
- Biểu diễn ca kịch:
Vào các buổi tối suốt những ngày lễ hội, các đoàn ca kịch
truyền thống của Việt Nam về biểu diễn các tuồng tích dâng Tổ nghề, Bà Thiên
Hậu, Quan Thánh và các thần và phục vụ bà con tới tham dự lễ xem tại sân khấu
bên phải sân ngoài của miếu. Trước giải phóng 30/4/1975, BTC thường mời các
đoàn từ Sài Gòn, Chợ Lớn như: Minh Tơ, Huỳnh Long và Hồng Kông về biểu diễn;
ngày nay BTC thường mời các đoàn ở địa phương như: Ngọc Khanh tham gia phục vụ.
Đây là những hoạt cảnh có nội dung như: cầu phúc thọ, gia quan tấn tước (cầu
mưa thuận, gió hòa, tài lộc dồi dào, người có tài được thăng quan tiến chức);
hoạt cảnh Quế Anh dâng cây, Ngọc Kỳ lân xuất thế, Thất tinh mai…. Việc mời các
đoàn hát tuồng người Việt về biểu diễn tại miếu thể hiện sự giao lưu văn hóa
giữa người Việt và người Hoa tại địa phương. Các đoàn diễn ngoài việc lấy thù
lao theo hợp đồng, bao giờ họ cũng tặng cho người xem một xuất để gọi là lòng
thành cúng Bà Thiên Hậu, cúng Quan Thánh và các vị Tổ sư. Đêm cuối của lễ hội,
sau khi hạ màn các diễn viên để nguyên trang phục tập trung vào trong miếu, Trưởng
đoàn đại diện khấn bái để dâng lên các bậc tiền nhân và thần thánh, cầu cho
quốc thái dân an sau đó thắp nhang cúi lạy tạm biệt. Hát tuồng cũng là phần hội
thu hút được nhiều người xem trong Lễ hội làm Chay ở Miếu Tổ sư.
- Lập đàn chay, làm lễ bắc cầu:
Lập đàn chay và lễ bắc cầu thỉnh Mễ Đẩu[4]cầu phước được tiến hành lúc 21 giờ tối 12
tháng sáu (ngày thứ ba của lễ hội). BTC trải sẵn tấm vải đỏ (0,9m x 15m) từ bàn
hương án bên ngoài rạp Chay ở sân trong của miếu vào đến các điện thờ chính
trong miếu. Bàn hương án được bày đủ các bộ lễ cúng gồm: 01 cặp đèn cầy lớn,
cây đèn thất tinh bằng đồng, bình bông, trái cây, ba chung trà, ba chung rượu,
tô nước lá bưởi và mâm gạo rắc bông vạn thọ, tiền cắc và huệ lên trên (có ý
nghĩa trường thọ và may mắn). Mễ Đẩu được thỉnh từ trên tầng cao của bàn hương án
từ ngoài sân để các Đạo sĩ tụng niệm cầu xin Tổ và các thần ban ơn phúc cho
trăm họ. Phía trên Mễ Đẩu là Long Đình[5]. Giữa Long Đình là bài vị bằng giấy dán
với ba hàng chữ Hán: “Nam thần thêm phước thọ; Thiên tào chánh chiêu bản mệnh
nguyên thần tinh quân; Bắc đẩu trú trường sinh” cùng các lễ vật sau: một cây
kiếm lệnh, một thước mộc trên đầu treo gương tròn nhỏ, một cây kéo, năm tép chỉ
ngũ sắc và một cành dương nhỏ. Giữa cây kiếm lệnh và cây thước để đèn dầu nhỏ tượng
trưng cho sự trong sáng. Đây là những lễ vật tế của Tổ dùng để yểm trừ tà.
Năm Đạo sĩ thay phiên nhau tụng kinh cầu an trong hai giờ,
đủ ba tuần trà và ba tuần rượu, tẩy uế Mễ Đẩu, thắp nhang, đốt giấy vàng bạc.
Đạo trưởng bắt đầu làm lễ bắc cầu bằng cách năm lần làm bùa chú và tung gạo có
rắc bông tươi và tiền cắc ra thí thực. Mọi người vái tạ, hai người lớn tuổi đại
diện trong Ban Trị sự thỉnh Mễ Đẩu từ ngoài vào trong điện thờ chính của miếu
sao cho ngọn đèn dầu không bị tắt, nếu bị tắt thì rất xui xẻo (theo một số
người Hoa tại địa phương kể lại: ngày xưa trong một lần làm Lễ hội Chay bị tắt
ngọn đèn rước trong lúc đưa Mễ Đẩu vào trong miếu, tức thì trong làng xảy ra nạn
dịch làm chết rất nhiều người. Một tháng sau, Bà lên đồng yêu cầu làm Chay lại.
Cả làng phải làm lại bằng cách bện một con rồng bằng rơm thắp nhang rước đi
khắp làng. Ngay lập tức Bà nhập vào một người dân tự xưng là Bà Thiên Hậu dùng
dao phát mía và chọn điểm yếm khí gây dịch bệnh phóng vào cắm thẳng xuống đất
trừ tà, lạ thay cả đám đông người đi theo đoàn rước nhưng không trúng bất kỳ
ai. Ngay sau đó bệnh dịch trong làng không còn nữa).
Mỗi khi người rước Mễ Đẩu đi qua, lập tức những người đứng
xung quanh xô nhau hốt những cánh hoa rắc phía dưới cầu mong được Tổ, Bà và
thần ban phúc. Khi đã đưa Mễ Đẩu vào trong bàn thờ Tổ, cả Mễ Đẩu và dải vải đỏ đều
được để nguyên, một tháng sau mới được mở ra. Sau khi mở, gạo và hoa được bà
con tới lấy về trộn gạo với gạo sẵn có trong gia đình để nấu cơm ăn còn hoa để
ướp với trà làm đồ uống hàng ngày, họ quan niệm làm như vậy sẽ được Tổ và Bà
ban phúc lành. Việc hành lễ rước Mễ Đẩu vừa có ý nghĩa trăm họ cùng đón
Tổ về ban phước cho cộng đồng, vừa đón rước Bà Thiên Hậu từ ngoài biển về và sau
cùng là rước phúc lộc của các vị thần ban đến trăm họ. Vì vậy nghi thức này còn
gọi là thỉnh Mễ Đẩu cầu phước. Kết thúc lễ Đàn chay, Bắc cầu lúc 0g giờ cùng
ngày.
d. Ngày thứ tư của lễ hội (13 tháng sáu âm lịch) - Kết
lễ làm chay:
- Lễ cúng thí, xô giàn:
02 giờ sáng ngày 13 tháng sáu (ngày cuối cùng của lễ hội), trên
bàn hương án ở sân ngoài được trang trí hai chân đèn cắm nến, một bình bông, ba
chung trà, ba chung rượu, một dĩa gạo, một dĩa muối, một dĩa tàu hũ ky; đặc
biệt có ba tháp đồ Chay bàn tay Phật được làm bằng cải xanh, bánh bao chay và
xôi nếp trắng, trên đầu mỗi tháp có ba vòng tròn nhỏ dần lên tượng trưng cho
Tam thế Phật giáo và Tam bảo. Trên đỉnh mỗi tháp có hình bàn tay Phật (làm bằng
bột mì) kiểu bắt ấn, gồm đủ tay phải và tay trái. Trước các tháp tay Phật là lư
hương bên trong cắm ba cây nhang lớn, ba bàn tay Phật bằng giấy và hai cây đèn
cầy cháy sáng. Tháp rau cải với bàn tay bắt ấn tượng trưng cho chữ Thiên, tháp
bánh bao tượng trưng cho chữ Địa, và tháp xôi nếp tượng trưng chữ Dương. Hình dáng
các đồ tháp Chay gợi cho ta liên tưởng đến những stupa (tháp Phật) được các Đạo
sĩ của Đạo giáo kết hợp đưa vào trong nghi thức cúng xô giàn cầu siêu, chứng tỏ
nghi lễ cầu siêu, cúng thí có yếu tố của Phật giáo.
Đúng giờ qui định (02 giờ sáng), vị Pháp sư mặc áo Bách Gia Đạo
bào màu vàng, đội mão có hai tua dài (giống trang phục đi phóng đăng) thượng
đàn bắt đầu tụng các kinh: Vãng Sanh, Địa Tạng. Pháp sư vừa tụng kinh vừa múa
hai tay kiểu bắt ấn, sau đó rung chuông, trống, chập chõa… tấu lên những khúc
nhạc rộn rã. Sau ba tuần trà, ba tuần rượu, Pháp sư tiến hành cúng thí. Giữa
cây nêu và Ông Tiêu là một sân giấy tiền vàng bạc được trải kín với 3.600 bộ áo
giấy (gấp mười lần ở bến sông)[6]. Người ta chia những sấp giấy thành ba
đường để đặt 54 chén đồ cúng giữa chén cắm đèn cầy nhỏ. Những món đồ cúng là đồ
chay của người Hoa như: tàu hũ ki, nấm mèo chiên, bún tàu chiên, đậu xào xì
dầu, gạo, muối, cơm nguội và trầu cau… Rải rác trên giấy tiền vàng bạc có thắp
các ngọn đèn cầy và các ngọn đèn dầu giữa bông hoa giấy trong đêm tối trông rất
lung linh huyền ảo, không khí linh thiêng, thoát tục. Xung quanh bàn hương án người
ta đặt những giàn (cỗ) vàng bạc bằng giấy do các gia đình đem tới cúng thí. Khi
bãi giấy tiền vàng bạc được các Pháp sư đốt lên cũng là lúc nghi thức cúng thí
xô giàn bắt đầu. Vị Pháp sư phóng hỏa 3.600 bộ giấy áo vừa đọc nội dung đại
khái như: Ai nấy đều có, lớn theo lớn, nhỏ theo nhỏ, lớn đừng ăn hiếp nhỏ mà
nhỏ cũng đừng xô lớn, đừng giành giựt nhau. Các Pháp sư lần lượt đem Tiêu Diện
Đại Sĩ, Phán Quan và các hình nhân nhỏ ra phóng hỏa. Trước kia, khi phóng hỏa
Tiêu Diện Đại Sĩ người ta phải dùng cây chống đỡ hai bên cho hình nộm sụm xuống
từ từ và không được ngả qua một bên như thế sẽ rất xui xẻo. Còn ngày nay việc
giữ gìn trật tự trong khi cúng thí xô giàn là rất khó. Chuẩn bị xô giàn, nhiều người
chen lấn, thi nhau giành giựt lưỡi Ông Tiêu và tất cả các đồ vật cúng thí.
Những kẻ cuồng tín chen lấn xô đẩy nhau (thậm chí ẩu đả gây thương tích nhẹ) để
giành giựt cho bằng được lưỡi Ông Tiêu đem về làm “bùa” hoặc bán lại cho người
khác với giá tiền rất cao vì họ nghĩ lấy được lưỡi ông Tiêu sẽ trừ được tà ma
trong nhà. Sau khi phóng hỏa ông Tiêu, vị Pháp sư ném tháp bánh bao ra ngoài
thí cho cô hồn, còn hai tháp rau cải và xôi nếp trắng tượng trưng cho hai bàn
tay của Phật được giữ lại trả cho miếu (nhưng trên thực tế cúng thí chưa xong
đám đông đã ùa vào giành giựt hết cả ba tháp, BTC cũng không thể ngăn cản được
lòng sùng tín và hiếu kỳ của mọi người trong cúng thí cô hồn). Sau khi đốt xong
Tiêu Diện Đại Sĩ và Phán Quan, các Pháp sư và đại diện Ban Trị sự miếu bắt đầu
hạ cây nêu đưa 52 chiếc lồng đèn ra đốt trong sự giành giựt của những người
sùng tín, kết thúc nghi thức cúng thí xô giàn. Trở vào miếu, Pháp sư vừa tụng
kinh kết thúc lễ cầu siêu vừa cuốn Kim bảng đặt lên hai tay vị sứ giả cưỡi ngựa
bằng giấy màu đỏ đem ra sân đốt cùng tất cả liễn, tranh, ảnh…bằng giấy trang
trí trong rạp chay và trong miếu. Vì đây là những đồ cúng cô hồn, cần phải đốt
và thu dọn sạch sẽ, kết thúc lễ vào lúc 4 giờ sáng cùng ngày.
- Cúng cả mặn kết lễ:
Lúc 6 giờ sáng ngày 13 (ngày cuối của lễ hội), BTC soạn sẵn
những mâm cúng mặn gồm: một con dê đực[7]làm thịt để sống cúng trước bàn thờ Quan
Thánh Đế Quân, một con heo sống làm thịt cúng trước bàn thờ Tổ nghề và một con
heo quay đỏ cúng trước bàn thờ Bà Thiên Hậu. Ngoài ra, trên các bàn thờ khác còn
có cả gà luộc, các loại trái cây và nhang đèn. Trên bàn thờ chính nơi thờ tam
Tổ đặt Mễ Đẩu, cây đèn dầu thất tinh, hai ngọn nến, bông, nhang lớn và mâm trái
cây.
Giờ hành lễ (khoảng 8 giờ), năm vị đạo sĩ tụng kinh, gõ nhạc
khí phụ họa lời cúng tạ ơn Thánh Tổ, Thiên Hậu và các thần đã phù hộ cho Lễ hội
làm Chay được mọi sự tốt đẹp. Một đạo sĩ đại diện châm trà, rượu và đốt giấy
vàng bạc, BTC và Ban tế lễ đứng sau thắp nhang vái Tổ và các thần chứng giám.
Trở ra rạp Chay phía ngoài sân, vị Đạo trưởng cầm khánh trên
tay vừa gõ vừa tụng kinh xin được thỉnh bài vị chư Thần về an vị tại các miếu,
đình trong khu vực Bửu Long. Cũng giống như ngày đi thỉnh rước thần, đoàn rước
cũng có cờ, lân, lọng, kiệu bên trong đặt linh vị tam Tổ, Thiên Hậu, Quan
Thánh, phía trước kiệu đặt bát nhang cắm bài vị Chư thần. Pháp sư đi trước
kiệu, theo sau là BTC, Ban Trị sự miếu cùng đám đông nhân dân người Việt và Hoa
tham gia. Lần luợt tại các miếu Thiên Hậu (Miếu cây Quăn), miếu Tiên Cô và Bát
Công Thổ Địa, Bài vị được thỉnh vào Chánh điện, Pháp sư tụng kinh chúc phúc và xin
keo, thắp nhang lạy tạ, đốt giấy vàng bạc và đốt bài vị tại chỗ, coi như đã
hoàn tất lễ, an vị thần tại vị trí cũ. Sau đó, đoàn rước khiêng kiệu trở về rạp
Chay thỉnh linh tam vị Tổ, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân về Hậu
điện của miếu. Pháp sư tiếp tục tụng kinh chúc phúc tạ lễ, thắp nhang vái tạ,
đốt giấy vàng bạc và kết thúc Lễ hội làm Chay lúc 11 giờ trưa.
Kết thúc lễ hội, mọi người dân tham dự hân hoan trở về với
cuộc sống hàng ngày, công việc của những người thợ đá lại tiếp tục với những
ước vọng, cầu xin mà họ tin là sẽ được Tổ nghề, Bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế
Quân và các thần linh ban phúc. Ai nấy đều chờ đón sẽ gặp lại nhau trong lễ hội
làm chay thật lớn, thật tưng bừng, náo nhiệt vào dịp đáo lệ 3 năm tới.
* Một số nhận định:
Mục đích ban đầu của lễ hội làm chay là tôn vinh ba vị Tổ
nghề (đá, mộc và rèn) của những người thợ đá, người Hoa bang Hẹ ở Bửu Long tổ
chức tại Miếu Tổ Sư. Vào dịp lễ này, những người thợ đá đều nghỉ việc và mỗi
gia đình đều cử ra một hoặc hai người tham gia phụ giúp công việc ở miếu. Sau
này, lễ hội không còn nguyên thủy tôn vinh tưởng nhớ Tổ nghề mà kết hợp cả tín
ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu và Quan Thánh Đế Quân nhưng vẫn giữ nguyên tính chất
cầu an, cầu phúc, cầu siêu cho cộng đồng. Điều này chứng tỏ lễ hội đã được đổi
mới cho phù hợp với hoạt động tinh thần tín ngưỡng của cộng đồng xã hội địa
phương. Một sự dung hợp khéo léo thu hút được đông đảo người Hoa và cả người
Việt tham gia.
Lễ hội làm chay tại Miếu Tổ Sư là sự kết hợp tín ngưỡng dân
gian (thờ Thiên Hậu, Tổ nghề, Quan Đế) với các nghi lễ Nho giáo, Đạo giáo và
Phật giáo của cộng đồng người Hoa bang Hẹ ở Biên Hòa. Đối tượng chính hành lễ trong
những ngày diễn ra lễ hội (từ lúc khai mạc đến lúc kết thúc) đều do các đạo sĩ
của đạo giáo thực hiện. Nghi thức hành lễ là sự kết hợp của Tam giáo (Nho, Đạo,
Phật) cùng xen kẽ nhau, điều này diễn tả tư tưởng “Tam Giáo Đồng Nguyên” của
người Hoa. (Nghi lễ của Đạo giáo được dùng trong lễ cầu an, cầu phúc. Còn trong
nghi lễ cầu siêu, cúng thí cô hồn thì lại mang tính chất Phật giáo, từ những
bài kinh Địa Tạng, kinh Vãng Sanh… đến những biểu tượng Phật giáo và cả trang
phục cầu siêu màu vàng của Pháp sư cũng ảnh hưởng của nghi lễ Phật giáo). Nhưng
nhìn chung tính chất nghi lễ của đạo giáo rõ nét qua các biểu tượng triết lý âm
dương (xin keo), ngũ hành bát quái, thông qua trời đất, vũ trụ, lời cầu xin
được các thánh thần chứng giám với nội dung đại ý cầu cho thiên hạ thái bình,
quốc thái dân an, nghề nghiệp thuận lợi. Việc dung hợp nhiều lễ nghi tôn giáo
trong một lễ hội cũng không phải là điều hiếm thấy, song lễ hội làm chay tại
Miếu Tổ Sư là một hiện tượng khá đặc biệt, khác hẳn lễ hội cầu siêu của người
Hoa Phước Kiến, hoàn toàn mang tính chất lễ nghi của Phật giáo. Lễ hội làm chay
ở Miếu Tổ Sư làng đá Bửu Long biểu hiện của tín ngưỡng tôn giáo Trung Quốc,
được người Hoa sùng tín, được người Hẹ bảo tồn, duy trì cho đến nay.
Có thể nói, lễ hội làm chay ở Miếu Tổ Sư là sản phẩm phi vật
thể rất có giá trị trong hệ thống các cơ sở tín ngưỡng ở Biên Hòa và Đồng Nai.
Lễ hội đã góp phần làm phong phú, đa dạng giá trị của nó trong cộng đồng người
Hoa và cả người Việt ở địa phương. Cũng như làng nghề điêu khắc đá Bửu Long, sự
giao hòa và dung hợp của hai yếu tố văn hóa Hoa - Việt trong lễ hội làm chay
bước đầu đã và đang tạo nên những sản phẩm văn hóa phi vật thể góp phần nâng
cao sự nhận thức và tác động mạnh đến đời sống văn hóa, tinh thần cũng như vật
chất của không ít người dân địa phương. Tuy nhiên, cũng cần phải đặt ra những
phương án bảo lưu lễ hội này bởi trong xu hướng phát triển nền kinh tế trong
thời kỳ hội nhập như hiện nay, việc phát triển và bảo lưu nguyên trạng nguồn
gốc của sản phẩm phi vật thể này là rất cần thiết, là trách nhiệm và cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và những người làm công tác quản
lý văn hóa của tỉnh và thành phố.
7.2. Lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu:
Lễ vía Thiên Hậu Thánh Mậu diễn ra trong một ngày (23 tháng
3 Âm Lịch). Đây là lễ vía của người Hoa diễn ra ở hầu hết các miếu có thờ Thiên
Hậu Thánh Mẫu. Vì có nhiều cơ sở tổ chức lễ vía Bà trùng vào ngày này nên lễ
vía Bà ở Miếu Tổ Sư cũng không tổ chức lớn mà chỉ là dịp để người dân tưởng nhớ
đến Bà Thiên Hậu. Ban Trị sự không thành lập BTC. Lễ vật cúng Bà bao gồm: hoa
quả, nhang đèn và các đồ cúng mặn như: gà, vịt, heo quay. Trước giải phóng
30/4/1975, trong dịp lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu, Ban Trị sự miếu còn tổ chức
bán đấu giá lồng đèn, đến nay nghi thức này không còn (do thời gian tổ chức chỉ
diễn ra trong một ngày). Khách đến tham dự lễ là các bang, hội người Hoa trong
thành phố Biên Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, bá tánh và đại biểu
khách mời. Đây là dịp để các bang hội gặp nhau trao đổi kinh nghiệm nghề
nghiệp, đồng thời cũng là dịp để họ tỏ lòng thành kính đến Thiên Hậu Thánh Mẫu,
người đã có công đem lại sự bình an cho cộng đồng người Hoa. Tất cả công tác chuẩn
bị được sẵn sàng trước đó một ngày, riêng đại biểu khách mời được gửi thiệp
trước một tuần. Ngoài cổng lớn và trước Tiền điện của miếu treo băng rôn nền
đỏ, chữ vàng cùng dòng chữ: Cung chúc Thiên Hậu Thánh Mẫu bửu đán.
Từ 6 giờ sáng ngày vía Bà, những người đã được phân công
nhiệm vụ và trách nhiệm bắt đầu bắt tay vào công việc của mình. Người chuẩn bị
nhang đèn và các đồ cúng cho tươm tất, người lo xếp bàn ghế, người lo nấu ăn… Khoảng
9 đến 10 giờ, đại diện Ban Trị sự làm nghi thức cúng tế trước các bàn thờ trong
miếu cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, làm ăn phát đạt. Từ 10 giờ
trở đi nhân dân địa phương và khách mời tới thắp nhang cầu nguyện sau đó dùng
bữa tiệc mặn gọi là lấy lộc của Bà. Số lượng khách mời và bá tánh tới tham dự
tùy thuộc vào từng năm (năm nào có kinh phí dư giả thì số lượng khách mời đông
hơn), trung bình từ 5 đến 20 bàn tiệc đãi khách. Buổi chiều, sau khi mãn khách
và bá tánh tới cúng, Ban Trị sự bắt đầu làm công tác dọn dẹp vệ sinh cho miếu,
trả lại nguyên trang ban đầu, kết thúc lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu.
7.3. Lễ vía Quan Thánh Đế Quân:
Lễ vía Quan Thánh Đế Quân được tổ chức một ngày (24 tháng 6
Âm Lịch, đây cũng là ngày giỗ Ông). Nghi lễ và hình thức tổ chức cúng cũng
giống như lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu. Riêng lễ vật cúng Quan Thánh Đế Quân phải
cữ gà vì tương truyền do gà là con vật ân nghĩa của Quan Công nên ông không ăn
thịt gà. Tương tuyền rằng, một lần bị kẻ thù truy bắt, Quan Công đã lấy máu gà
xoa lên mặt làm kẻ thù không phát hiện, nhờ vậy mà thoát nạn. Cũng từ đó, ông
không ăn gà. Sau khi ông mất, người đời không cúng gà.
. Lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hóa tại di tích:
Hàng năm, Miếu Tổ Sư thường tổ chức các dịp lễ: vía Tổ Sư
(13 tháng 6 Âm Lịch), vía Thiên Hậu Thánh Mẫu (23 tháng 3 Âm Lịch) và vía Quan
Thánh Đế Quân (24 tháng 6 Âm Lịch). Nhưng đặc biệt, đáo lệ 3 năm một lần, Miếu
tổ chức lễ hội vía Tổ sư (13 tháng 6 Âm Lịch). Đây là lễ hội duy nhất của miếu
tổ chức cúng chay, người dân thường gọi là lễ hội làm chay để tưởng nhớ đến ba
vị Tổ nghề, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân.
1. Lễ hội làm Chay (Lễ vía Tổ sư):
Lễ hội diễn ra 04 ngày (từ ngày 10 đến ngày 13 tháng 6 Âm
Lịch) để cầu an, cầu phúc cho người dân bá tánh. Đây là lễ hội rất lớn của Miếu
Tổ Sư cũng như của cộng đồng người Hoa ở Biên Hòa, thu hút bá tánh từ khắp nơi
về tham dự.
Lễ hội làm chay có nguồn gốc rất rõ ràng. Theo một số điển
tích mà các cụ bô lão người Hoa bang Hẹ tại địa phương kể lại thì: trước đây ở
vùng Bửu Long có nạn dịch tả, Bà (chỉ Bà Thiên Hậu) nhập đồng vào ông Tào
Khương (tiếng Hẹ gọi là Sùng Khoỏng) cho biết phải có người lên núi hái đủ 103
vị thuốc bằng lá về trị cho dân làng, người ta làm theo và trong vùng hết nạn
dịch. Nhân dân đã tổ chức lễ hội làm chay cúng tạ ơn Bà. Mặt khác, trong thời
kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng Bửu Long và Miếu Tổ Sư là nơi một số
cán bộ cách mạng của ta bị giết hại nên nhân dân đã phối hợp cúng linh hồn cho
các chiến sĩ, cầu an cho dân làng, xua đuổi mọi điều xấu, thoát khỏi các dịch
bệnh và cầu siêu cho các vong linh. Nhưng quan trọng hơn cả trong lễ hội làm
chay vẫn là dịp để những người làm đá tại địa phương và người Hoa ở Đồng Nai và
các tỉnh lân cận tụ họp về đây để tạ ơn Tổ nghề, cầu nghề nghiệp được ăn nên
làm ra, phát triển thịnh vượng hơn.
Để chuẩn bị cho một lễ hội lớn diễn ra trong vòng 4 ngày,
ngay từ ngày lễ vía Bà Thiên Hậu (23 tháng 3 Âm Lịch), Ban Trị sự miếu bắt đầu
tiến hành họp bàn thông báo tổ chức lễ để tất cả cộng đồng người Hoa đang sinh
sống ở Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận tham dự, đồng thời
thành lập BTC gồm 20 người có uy tín trong Ban Trị sự có nhiệm vụ phân công
trách nhiệm cho từng cá nhân, bộ phận, tổ phụ trách các công việc cụ thể như:
bộ phận rước, bộ phận đãi khách, khiêng kiệu, nấu ăn, tổ phát đèn, tổ cúng….
Các cá nhân, bộ phận và tổ này tùy thuộc vào công việc của mình cần nhiều hay
ít người phụ. Đây là những người tự nguyện (giống như các phật tử và người làm
công quả ở các chùa). Tổng cộng cả BTC và những người có trách nhiệm tham gia
lên đến 200 người. Đến tháng 6 (Âm Lịch) BTC họp tất cả những cá nhân và các bộ
phận để thống nhất lần cuối. Sau đó, mọi công việc chuẩn bị cho lễ hội đều phải
hoàn tất, BTC phát xiêm y đồng phục cho từng bộ phận tham dự.
Vài ngày trước khi diễn ra lễ hội, BTC cử người dọn dẹp vệ
sinh trong và ngoài miếu. Trên nóc mái các gian Trung điện, Tiền điện và sân
trong của miếu được trang trí những khoanh nhang vòng. Đây là những vòng nhang
của bá tánh thập phương đến cúng để cầu an giải hạn tạo sự linh thiêng, ấm cúng
cho ngôi miếu và cũng là phong tục của người Trung Hoa.
Ngày mồng 9 tháng 6 Âm Lịch (trước khi lễ hội diễn ra 01
ngày), theo sự phân công của BTC, các bộ phận bắt đầu treo đèn lồng, kết hoa,
cắm cờ lễ hội trang trí từ cổng vào tới miến. Ngoài cổng Tam quan treo băng rôn
màu đỏ chữ vàng với nội dung (Việt và Hoa): Chào mừng quý khách về dự lễ hội
chùa Bà, trên hai trụ cổng dán câu đối chữ Hán màu đỏ, chữ vàng với ý nghĩa cầu
an, cầu phúc cho bá tánh khắp nơi về dự lễ hội. Ở bên trái khoảng đất trống sân
lớn của miếu dựng 3 cây nêu (người Hoa gọi là thọ phướn hay cây phướn). Cây nêu
gồm ba cây tre cao và thẳng dài từ 7m đến 8m, được dựng song song thành một
hàng thẳng. Trên cây nêu treo đèn lồng bằng giấy trắng dán chữ Hán màu đỏ thành
5 dây song song tượng trưng cho các vị: Tổ sư, Bà Thiên Hậu và Quan Thánh Đế
Quân thờ. Dây đèn ở giữa treo cao hơn và dài nhất, trên cao là biểu tượng cờ
lệnh và mão với dòng chữ: Cung chúc Ngũ Đăng Tiên Sư bửu đán, 4 dây hai bên với
các dòng chữ: Uất Trì Tiên Sư, Lỗ Ban Tiên Sư, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan
Thánh Đế Quân. Việc trang trí cây nêu với vị trí tôn vinh Tổ nghề (ở giữa)
khẳng định lễ hội làm chay là vía tổ nghề, nhưng hiện nay do phối thờ Bà Thiên
Hậu nên người dân địa phương quen gọi là lễ làm chay chùa Bà hay làm chay cho
Bà. Mục đích của việc cắm cây nêu ở sân lớn của miếu là báo cho các vị thần thánh
biết địa điểm cúng chay để cầu an, cầu phúc cho dân làng và siêu độ cho các
hồn. Dưới ba cây nêu bày một bàn hương án để các đạo sĩ cúng tế trong suốt
những ngày diễn ra lễ hội. Bên phải bàn hương án dựng miếu nhỏ bằng giấy đủ màu
trong đặt bàn hương án, trên là hình nhân Tiêu Diện Đại Sĩ bằng khung tre, bên
ngoài bọc giấy nhiều màu sặc sỡ. Ông Tiêu trong lễ hội mặt xám, bụng phệ, đầu
đội mão, phía trên có ba sừng tay phải cầm thẻ bài đưa lên cao, tay trái cầm cờ
lệnh xuôi xuống, chiếc lưỡi dài để xua đuổi tà ma. Hai bên ông Tiêu là hình
nhân Thổ địa, Tướng quân và Thủy quân mặc trang phục, mũ màu các loại (đây là
người giải oan cho những linh hồn chết sông nước) và có nhiệm vụ để bảo vệ cho
ông Tiêu.
Trong sân trước Tiền điện (nơi chính diễn ra lễ hội làm
chay, người Hoa thường gọi chung là rạp chay, đàn chay). Tại đây, các đạo sĩ
cúng tế liên tục trong suốt quá trình diễn ra lễ hội. BTC dựng sân khấu bằng gỗ
có diện tích khoảng 36m2, trên sân khấu đặt một bàn hương án bằng gỗ phủ vải đỏ
thêu kim tuyến rất trang trọng với đủ màu sắc tượng trưng cho Tam thanh (3 vị
thần tiên ở cổng trời) là: Thủy Thiên Tôn, Thái Thượng Lão Quân và Thông Thiên
Giáo Chủ. Đây cũng là nơi sẽ thỉnh thờ linh vị tam Tổ sư, Thiên Hậu Thánh Mẫu
và Quan Thánh Đế Quân và các bài vị thỉnh từ các miếu khác về. Trong rạp người
ta trang trí đầy đủ các bàn thờ, tranh ảnh, cờ trướng, liễn đối, nhang đèn,
hương hoa.
Trong miếu, đèn điện thắp sáng, đèn lồng lớn, cờ trướng treo
trang hoàng, lộng lẫy cùng các đồ cúng được sắp đầy đủ ở tất cả các bàn thờ.
Những câu liễn đối bằng giấy đỏ chữ vàng với nội dung mong muốn sự bình an, tạ
ơn đến các vị Tổ sư, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân được dán trên
các cột và mặt tiền miếu. Trước cửa miếu trang trí hai hình nhân: Quan Văn áo
mão đạo mạo, tay cầm cuốn sách và Quan Võ nghiêm trang với bộ trang phục võ
tướng đủ màu, tay cầm cung tên đứng rất uy phong trấn giữ thánh môn. Hai bên
cửa miếu bày trí những bộ áo giấy tượng trưng cho trang phục các Chư thần về dự
lễ. Đặc biệt, bên phải cửa miếu người ta treo một cái sàng bằng tre (các lỗ của
sàng tượng trưng cho mắt thần nhìn thông suốt, đồng thời cũng tượng trưng cho
nền nông nghiệp) bên trong sàng đặt củ sả, lá dương (trừ tà); một cái gương
(sáng trong như gương); một cây thước thợ may (người có chuẩn mực, ngay thẳng);
một cây kéo nhỏ (trừ tà), 5 tép chỉ ngũ sắc (chỉ sự khéo léo); lá bưởi (sự tinh
khiết). Tất cả đều có ý nghĩa Tổ nghề, Bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân ban
phúc, trừ tà, xua đuổi ma quỷ, cầu cho quốc thái dân an, mọi người được hưởng
lộc, cô hồn siêu thoát. Ngoài ra, một sân khấu lớn cũng được dựng ở sân ngoài
của miếu để diễn các tuồng tích cổ hoặc biểu diễn nghệ thuật cho thần thánh và
nhân dân tham dự lễ hội cùng xem, tạo không khí vui tươi, nhộn nhịp với đầy đủ
nghi thức lễ và hội nhằm gắn kết tinh thần lạc quan của cộng đồng trong dịp lễ
hội làm chay.
Cũng từ thời điểm này, nhân dân, bá tánh bắt đầu đóng góp
tiền của phục vụ lễ hội (số tiền đóng góp tùy vào lòng hảo tâm của mỗi người
chứ không bắt buộc). Những người khá giả có thể bỏ tiền phước sương (tiền tự
nguyện cúng dường) từ vài triệu đến vài chục triệu đồng, người có mức sống
trung bình có thể bỏ vài trăm, vài chục ngàn, người nghèo thì vài ngàn gọi là
cái tâm. Người Hoa bang Hẹ quan niệm rằng người nào càng bỏ nhiều tiền ủng hộ
lễ hội làm chay thì càng được nhiều phúc của các vị Tổ sư, Thiên Hậu Thánh Mẫu
và Quan Thánh Đế Quân. Số kinh phí chi cho lễ hội làm chay lên đến vài trăm
triệu đồng, bao gồm các khoản như: sửa sang lại miếu, mua sắm các đồ cúng lễ,
cơm chay đãi khách trong bốn ngày, tặng quà cho các đại biểu về dự lễ. Đặc
biệt, kinh phí mời Đạo sĩ về hành lễ và các vật dụng phục vụ lễ như: hình nhân,
đèn lồng, hoa đăng, tháp vàng bạc, ngựa giấy… lên đến vài chục triệu đồng để
các Đạo sĩ thực hiện hành lễ trong suốt thời gian diễn ra lễ hội.
+ Chương trình lễ hội:
- Ngày thứ nhất (Khai lễ làm chay), bao gồm các nghi thức:
Khai lễ chiêu thỉnh Chư thần; lễ Khai đàn - khai quang điểm
nhãn; đãi cơm chay, biểu diễn võ thuật, ca kịch, lân sư rồng.
- Ngày thứ hai (khai kinh cầu an), bao gồm các nghi thức:
Lễ khai kinh cầu an; lễ Ngọ môn đáp tướng; đãi cơm
chay, biểu diễn ca kịch, lân sư rồng.
- Ngày thứ ba (chánh lễ làm chay), bao gồm các nghi thức:
Lễ khai bảng, hội thỉnh lồng đèn; lễ phóng thủy đăng;
lễ lập đàn chay, làm lễ bắc cầu; đãi cơm chay, biểu diễn ca kịch, lân sư rồng.
- Ngày thứ tư (kết lễ làm chay), bao gồm các nghi thức:
Lễ Cúng thí, xô giàn; cúng cả mặn kết lễ; đãi cơm chay, biểu
diễn ca kịch, lân sư rồng.
* Diễn biến lễ hội làm chay:
a. Ngày thứ nhất (10 tháng 6 Âm Lịch) - Khai lễ làm chay:
- Khai lễ chiêu thỉnh chư Thần:
Đây là nghi thức vừa mang tính chất lễ vừa mang tính chất
hội với việc tổ chức đoàn rước đông đảo hàng ngàn người có cờ xí, múa lân sư
rồng, trống nhạc…từ sân miếu đi đến các miếu thờ trong khu vực phường Bửu Long
như: miếu Cây Quăn, miếu Tiên Cô Nương Nương, Bát Công thổ địa miếu để chiêu
thỉnh Chư thần về dự lễ.
Đúng 8 giờ chuông trống gióng lên, báo hiệu giờ tốt khai lễ,
đạo trưởng chủ lễ làm nghi thức khai lễ rước linh vị Tam vị Tổ sư, Thiên Hậu
Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân từ Hậu điện đến các miếu trong khu vực để mời
các chư thần về dự lễ. Vị đạo trưởng chủ tế mặc áo bát quái Đạo bào màu đỏ
trang trí biểu tượng Âm Dương và Ngũ Hành Bát Quái, đầu đội mũ màu đen, đỉnh
xếp bằng, tay cầm khánh (nhạc khí tròn dẹp như chiếc gương đồng) vừa gõ vừa
tụng kinh Thái Thượng Nguyên môn kinh (kinh nghi lễ của Đạo giáo) bằng tiếng
Quảng Đông để xin tổ và các thần cho phép, chứng giám lễ làm chay của người Hẹ
làm đá. Mục đích của việc làm Chay là để cầu phước, cầu nghề nghiệp và giải hạn
cho cộng đồng trong ba năm đã qua và mong các Chư thần phù hộ cho họ có được
cuộc sống an bình, may mắn, người người mạnh khoẻ hạnh phúc, nhà nhà sung túc,
nhóm hội đoàn kết, tương trợ; cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, công
việc thuận lợi, phát tài, phát lộc cho ba năm tới.
Các thành viên trong Ban Trị sự miếu đại diện cho cộng đồng
người Hoa bang Hẹ mặc áo dài gấm, đầu đội nón bánh tiêu có lưỡi trai cung kính
đứng phía sau, mỗi người cầm một cây nhang vái lạy theo vị đạo trưởng. Sau vài
lời kinh xin phép các thần, đạo trưởng cầm xấp giấy kim bảng màu đỏ tụng kinh
chừng 15 phút rồi đi thỉnh chiêu chư thần. Kim bảng được một người ôm phía sau
vị đạo trưởng. Người ôm Kim Bảng là người lớn tuổi trong bang họ, đức độ, gia
đình còn sống đủ cả vợ chồng, đông con, nhà không có tang, được BTC chọn làm
đại diện (giống vị “cai đám” trong lễ hội của người Việt). Người ôm Kim Bảng
mặc áo dài gấm, đầu đội mũ, đeo một băng vải đỏ chéo qua ngực, tay mang chiếc
khay như ý cát tường đựng kim bảng phục vụ từ lúc khai lễ cho đến khi kết lễ.
Vị này đại diện cho sự phúc và may mắn trong lễ hội.
Sau khi khai lễ, mọi người dự lễ cúi lạy, thắp nhang trước
bàn thờ tam Tổ, một người châm rượu và đốt giấy vàng bạc tạ ơn. Người ta bắt
đầu rước linh vị tam Tổ, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân ra kiệu.
Trên kiệu đặt bát nhang lớn trên cắm các que dán giấy đỏ ghi tên từng Chư thần
ở các miếu lân cận về dự lễ. Kiệu được 08 thanh niên khoẻ mạnh mặc đồng phục
quần đen, áo đỏ sau lưng áo có dòng chữ Thiên Hậu Thánh Mẫu khiêng. Người ta
quan niệm ai được chọn khiêng kiệu là một điều may mắn và vinh dự. Trước khi
khởi kiệu, các đoàn múa lân sư rồng biểu diễn vài vòng xung quanh sân lễ và
quanh kiệu; đồng thời dàn kèn Tây thổi những khúc nhạc vui nhộn tạo nên không
khí náo nức cho lễ hội. Hàng ngàn người tập trung chờ sẵn trong miếu và ngoài
sân để sẵn sàng tham dự cùng đoàn rước.
Đi đầu đoàn rước là các đoàn lân sư rồng và những người cầm
cờ lễ hội (trang phục của những người này tùy thuộc vào kinh phí tổ chức từng
năm, nếu có kinh phí thì trang phục tươm tất hơn, thường thì vẫn mặc đồng phục
áo đỏ, quần đen sau lưng có dòng chữ Thiên Hậu Thánh Mẫu). Đây là những đoàn từ
địa phương và thành phố Hồ Chí Minh tự nguyện về phục vụ. Tiếp theo là dàn nhạc
ngũ âm của các đạo sĩ. Tiếng trống, phèng, chập chõa hòa vào tiếng nhạc Tây tạo
nên những âm thanh náo nhiệt, đặc trưng rộn rã của ngày hội. Tiếp theo là bàn
hương án đặt lư hương, cặp chân đèn, bình bông và đĩa trái cây tượng trưng cho
các món cúng lễ được 4 thanh niên mặc đồng phục khiêng. Theo sau bàn hương án
là những người cầm bát bửu và 7 cặp biển bài màu đỏ có cán cầm. Tiếp theo là
hai cặp Tiêu Chinh và Quỳ Bí giống như tướng quân đi trước dẹp đường cho các vị
thần. Các bài vị của Lỗ Ban Tiên Sư, Uất Trì Cung, Ngũ Đinh Tiên Sư, Thiên Hậu
Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân được rước ngay sau đó. Tiếp theo là các vị đạo
trưởng, Ban Trị sự miếu và sau cùng là đoàn người về dự bao gồm bá tánh và đại
biểu khách mời.
Lộ trình của đoàn rước xuất phát từ Miếu Tổ Sư qua khu chợ
nhỏ của làng đá Bửu Long đến miếu cây Quăn (còn gọi là Thiên Hậu miếu) để thỉnh
bài vị Thiên Hậu. Từ miếu cây Quăn, đoàn rước qua đình Bạch Khôi ra Tỉnh lộ 24
vào khu Danh thắng Bửu Long thỉnh bài vị Tiên Cô Nương Nương tại miếu Nương Tơ
sau đó vòng ra cổng chính khu Danh thắng thỉnh bài vị Thổ Công tại miếu thờ
trước cổng kết thúc cuộc rước trở về miếu. Nghi thức và lễ vật rước ở các miếu
bao gồm: bông, thức ăn chay, đặc biệt phải xin keo ở miếu cây Quăn khi nào được
thì mới được pháp thỉnh các bài vị về.
Trên các con đường mà đoàn rước đi qua, các gia đình người
Hoa sắp sẵn một mâm cúng bày kiểu hình tháp gồm: giấy bạc, nhang, đèn dầu, bánh
trái đặt trên bàn nhỏ đặt trước cửa để nghênh đón tổ và các thần. Việc rước
kiệu đi đến các điểm chiêu thỉnh chư thần giống như cuộc vi hành của các vị tổ
nghề và thần thánh qua xóm làng, xem xét tình hình làm ăn, sinh sống của bà
con, mọi người tin rằng những linh vị tổ nghề và các thần đi qua sẽ đem lại bình
an cho nơi đó. Khoảng 10 giờ, đoàn rước trở về miếu. Kiệu được cung thỉnh về
đặt tại sân trong của miếu, vị đạo trưởng đến trước kiệu thắp nhang tạ ơn trước
các khám thờ việc thỉnh thần đã thành công. Đại diện các vị đạo sĩ và Ban Trị
sự xá trước kiệu sau đó nghênh thỉnh linh vị của ba vị Tổ sư, Thiên Hậu Thánh
Mẫu, Quan Thánh Đế Quân và bát nhang đặt lên nơi cao nhất của bàn hương án ở
rạp chay. Đạo trưởng tụng kinh cầu phúc, tạ ơn sau khi an vị các thần và chuẩn
bị nghi thức thỉnh Bà Thiên Hậu từ Thiên Hậu Cung về. Lần thỉnh này không
nghênh rước như lần trước mà chỉ là đại diện các vị trong Ban Trị sự miếu và
đạo trưởng di chuyển bằng xe hơi (trước kia cả đoàn đi bộ, có giá thỉnh). Tới
nơi, vị đạo trưởng và các vị chức sắc tụng kinh, thắp nhang, đốt giấy tiền vàng
bạc… xin keo thỉnh Bà Thiên Hậu. Bài vị được thỉnh về miếu cũng đặt lên bàn
hương án ở rạp chay cùng với các bài vị đã rước trước đó. Lúc này, đạo sĩ vừa
tụng kinh vừa xá tạ ơn các vị Tổ sư, Bà Thiên Hậu và Quan Thánh Đế Quân đã phù
hộ cho việc chiêu thỉnh diễn ra thuận lợi và tốt đẹp. Việc rước các bài vị ở
các nơi về có ý nghĩa mời các chư thần về cùng chứng giám lễ hội làm chay, đồng
thời còn thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa
thuộc các bang khác nhau. Khoảng 11 giờ trưa lễ chiêu thỉnh Chư thần kết thúc.
- Đãi cơm chay, biểu diễn võ thuật, múa lân sư rồng:
Kết thúc lễ rước thần, tất cả những người tham dự, bá tánh
và đại biểu ăn bữa cơm chay tại sân lớn của miếu. Các món đãi gồm: kiểm, mắm
chay, bánh ít, đậu trắng xào tỏi; bí đỏ, cà tím xào tương tàu; củ cải muối xào
và bánh bao (các món: kiểm, mắm chay và bánh ít là món ăn của người Việt; những
món còn lại là món của người Hoa). Đây chính là sự giao thoa văn hóa ẩm thực
của người Hoa và Việt trong lễ hội làm chay ở Miếu Tổ Sư. Trong khi mọi người
cùng nhau ăn uống thì các đoàn lân sư rồng, các đội biểu diễn võ thuật, múa
đao… cũng đồng loạt biểu diễn tại góc sân ngoài tạo không khí vui tươi và khơi
gợi tinh thần thượng võ của người Hoa trong dân gian.
- Lễ khai đàn - khai quang điểm nhãn:
Nghi lễ diễn ra tại rạp làm chay khoảng 18 giờ. Khi hoàng
hôn xuống là lúc bắt đầu làm lễ khai đàn, khai quang điểm nhãn các tượng thờ và
các đồ vật cúng. Lễ khai đàn do vị đạo trưởng mặc áo màu đỏ, lưng có hình âm
dương bát quái, đầu đội mão có chóp cao hình hoa sen làm chủ tế, xung quanh có
6 đạo sĩ phụ tế, mỗi người có một nhạc khí như: trống, chập chõa, kèn, mõ… phụ
họa theo lời tụng của chủ tế. Lễ vật trong nghi thức này bao gồm: 01 đĩa gạo
rải tiền cắc bên trên, 03 đĩa đồ chay (gồm tàu hũ, bún tàu và nấm mèo), 03
chung lớn rót rượu, 03 chung nhỏ rót trà, 01 tô nước trắng và 01 lá bưởi, 01
chung rượu hòa thần sa, 01 con gà trống còn sống, 03 con ngựa giấy có hình nhân
tượng trưng cho người cưỡi, 01 đĩa giấy tiền vàng bạc, 01 cây cọ tàu lớn cột
đoạn cán dài 2m để điểm nhãn và nhang lớn.
Chủ tế cầm kim phong bảng và ba cây nhang vừa tụng kinh vừa
làm những động tác xoay vòng tròn và xá nhiều lần. Đại diện Ban Trị sự miếu
đứng phía sau, mỗi người cầm một cây nhang xá theo chủ tế. Sau mỗi hồi tế, một
người đi thu nhang đến cắm vào bát nhang trước bàn hương án. Cứ vậy, xong hai
tuần rượu, chủ tế đốt giấy tiền, giấy bạc viết bằng chữ Hán có ý nghĩa tẩy uế,
nhúng tàn tro giấy đốt vào rượu có cành lá bưởi, dùng con dao găm xung quanh có
vòng sắt nhúng vào tô rượu vẩy khắp rạp chay, các vị trí ở trong miếu, nhà bếp,
nhà khách… để tẩy uế, trừ tà. Một người đại diện đốt sớ, sau đó tất cả trở lại
bàn hương án trước điện thờ ở rạp chay, đạo sĩ và hai phụ tế (một người gõ
trống, một người đánh chập chõa) bắt đầu nghi thức khai quang điểm nhãn.
Nghi thức cúng khai quang điểm nhãn bắt đầu với các đạo sĩ
tụng kinh, xá lạy cùng với các động tác xoay tròn người trước điện thờ tại rạp
chay. Một người rót trà, vị đạo sĩ cầm tô nước có lá bưởi vẩy xung quanh tẩy uế
bàn lễ. Chủ tế ngậm một ngụm nước trong tô cầm con gà trống còn sống nhấc lên
cao phun nước vào đầu gà, dùng móng tay cấu vào mào gà (vị trí cao nhất của con
gà và có ý nghĩa sạch sẽ nhất) cho máu nhỏ vào chung rượu hòa lẫn với thần sa
trong có vài lá bưởi tạo thành hỗn hợp sẽ được dùng để khai quang điểm nhãn. Vị
chủ tế di chuyển vào trong miếu cầm cây cọ tàu cán dài nhúng vào chén rượu có
huyết gà chấm vào các đồ vật, các tượng trong miếu (tam vị Tổ sư, Thiên Hậu,
Quan Thánh. Các bức tượng đều được phủ kín bằng vải). Ngoài sân lớn, các đạo sĩ
còn lại điểm nhãn hàng trăm chiếc đèn lồng, cờ và ông Tiêu. Theo sát chủ tế
phía trong miếu là một đạo sĩ cầm cây nhang dài chấm vào các vị trí ở các đồ
vật vừa được điểm nhãn trước đó. Một đạo sinh đi theo cầm chén thần sa và con
gà trống tiếp tục lấy máu ở mào để phục vụ. Màu đỏ và nhang dùng trong nghi
thức này tượng trưng cho ánh sáng và màu sắc có ý nghĩa truyền sức sống của
thần thánh vào các tượng cũng như các đồ vật trong miếu. Sau khi điểm nhãn, các
bức tượng được mở khăn ra. Kết thúc lễ, Chủ tế trở về bàn hương án điểm nhãn
ngoài sân đốt ba con ngựa giấy trên lưng có ba vị tướng quân mặc áo màu vàng,
đỏ và xanh đại diện cho thiên binh, xứ giả mời các quan về dự hội. Sau cùng,
Chủ tế kết lễ hóa sớ, tung tiền và gạo ra để thí thực, kết thúc ngày ngày đầu
tiên của lễ hội lúc 21 giờ ngày 10.
b. Ngày thứ 2 (11 tháng 6 Âm Lịch) - Khai kinh cầu an:
- Lễ khai kinh cầu an:
Từ 6 giờ sáng, BTC cử đoàn múa lân đến các gia đình rước các
mâm cúng, các cỗ tháp giấy vàng bạc cúng cô hồn về miếu, xếp thứ tự theo từng
hàng trong rạp chay. Cỗ đồ cúng hình tháp cao khoảng 1,5m, rộng 0,5m, xung
quanh gắn bánh, kẹo, thuốc lá, hộp quẹt, mì gói, kẹo cao su, giấy vàng bạc…
Trên đỉnh tháp gắn cờ giấy kiểu đuôi nheo ghi tên người phụng cúng. Đoàn lân
sắp xếp rước cỗ cúng nguyên một ngày, mỗi lần rước 4 cỗ. Lễ vật cúng khai kinh
cầu an bao gồm: trái cây, 03 chung trà, 03 chung rượu, nhang và hoa tươi.
Đúng 10 giờ, Chủ tế bắt đầu khai kinh cầu an tại rạp chay
với nghi thức sau: cứ sau mỗi đoạn kinh của Chủ tế, các đạo sĩ châm trà và
rượu, đại diện Ban Trị sự vái ba lần sau đó đốt giấy vàng và thắp nhang lạy tạ
xin các thần phù hộ chứng giám; cầu an cầu phúc cho dân làng bằng những lời
kinh Vãng Sanh. Sau hai tuần trà rượu liên tiếp, đoàn tiếp tục thực hiện các
nghi lễ trên tại bàn hương án dưới cây nêu ngoài sân lớn của miếu.
Trở vào miếu, đoàn cúng đến trước bàn thờ ba vị Tổ sư, Thiên
Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân tiếp tục thực hiện các nghi thức cúng tế. Lúc
này ở ba bàn thờ chính ngoài nhang đèn, giấy vàng bạc còn có rất nhiều lễ vật
của thiện tín đem tới cúng. Các mâm trái cây cúng ba vị Tổ, Bà Thiên Hậu và
Quan Thánh Đế Quân sắp đầy các bàn hương án, mọi người đều tin với lòng thành
cầu xin sẽ được thần ban phước, nhất là vào dịp lễ hội trọng đại này. Trước mỗi
bàn thờ, đoàn hành lễ cũng tụng cúng kinh cầu an, cầu phúc và thắp nhang, đốt
giấy vàng giống như ở phía ngoài rạp chay ở sân miếu. Việc cúng tế các bàn thờ
trong miếu có ý nghĩa rất đặc biệt vì đây là trung tâm thờ tự, các vị được thờ
ở đây là những bậc thánh thần và những người có công đức trong tín ngưỡng cộng
đồng người Hoa.
Kết thúc lễ khai kinh cầu an, Chủ tế và đoàn hành lễ trở về
vị trí rạp chay làm nghi thức vái tạ các thần. Các đạo sĩ thay phiên nhau tụng
kinh, thắp nhang vái bốn phương và linh vị các Chư thần trên bàn hương án.
Trong khi cúng, một người đại diện châm trà, rượu và đốt giấy vàng. Lúc này,
ngoài Ban tế lễ, các đạo sĩ và đại diện Ban Trị sự miếu còn có các thiện nam
tín nữ cầm những bông hoa huệ đứng phía sau cùng dự lễ. Sau khi đốt giấy vàng
bạc, mọi người thắp nhang quay một vòng xá ba lần hướng về phía chính của miếu,
kết thúc lễ khai kinh cầu an lúc 11 giờ trưa. Từ 11 giờ trở đi, BTC tiếp bá
tánh tới cầu an và dự cơm chay. Đến 14 giờ chi cùng nay, BTC chuẩn bị cho lễ
Ngọ Môn đáp tướng.
- Lễ ngọ môn đáp tướng:
Lễ bắt đầu lúc 14 giờ ngày 11 tháng sáu tại rạp chay. Các
đạo sĩ tập trung phía trước bàn hương án đặt tại rạp chay. Bàn hương án trưng
bức tranh bằng kính hình năm vị sứ giả của trời tượng trưng cho Ngũ Hành.
Các đạo sĩ nhập đàn, tụng kinh Thái Thượng Nguyên Môn, Thái
Ất Kinh, vái năm phương theo thuyết Ngũ Hành, vẩy rượu tẩy uế, vừa tụng kinh
vừa múa dẻo hai tay kiểu bắt ấn để trừ tà khí và xua đuổi ma quỷ. Sau một tuần
trà rượu, vị đạo sĩ thứ nhất tượng trưng cho hành Mộc phương Đông đứng lên cầm
sớ và cờ lệnh màu xanh lục vừa tụng kinh vừa múa. Xong một đoạn kinh cắm cờ
lệnh vào lư hương ở bàn hương án. Tương tự, vị đạo sĩ thứ hai tượng trưng cho
hành Hỏa ở phương Nam, cầm sớ và lệnh cờ màu đỏ, vị đạo sĩ thứ ba cầm lệnh cờ
màu trắng tượng trưng cho hành Kim ở phương Tây, vị thứ tư cầm lệnh màu xanh
dương (thay màu đen) tượng trưng cho hành Thủy ở phương Bắc và cuối cùng là vị
Chủ tế cầm lệnh màu vàng tượng trưng cho hành Thổ ở trung tâm tụng kinh cầu an,
múa kiếm, cờ và cắm cờ lên bàn hương án. Nghi thức này xong, đại diện Ban Trị
sự đốt giấy tiền vàng bạc.
Dưới bàn hương án sắp sẵn bốn con ngựa giấy trên lưng có bốn
vị tướng quân mặc áo xanh, đỏ, trắng, xanh dương và các túi sớ kèm theo tượng
trưng cho các sứ giả tứ phương của Ngọc Hoàng được mời về dự lễ (bốn con ngựa
giấy cũng tượng trưng cho năm, tháng, ngày, giờ để gia chủ cầu theo sở nguyện).
Chủ tế làm nghi thức tẩy uế ngựa bằng nước lá bưởi, trừ tà trên lưng ngựa. Đại
diện bốn người trong ban hành lễ cầm bốn con ngựa giấy làm động tác như cưỡi
chúng chạy vòng quanh bàn hương án bốn vòng, sau đó từng người cầm sớ tụng kinh
cầu an, xen kẽ là những câu đối thoại như: anh từ đâu đến? anh có nhiệm vụ gì?.
Các Đạo sĩ phải trả lời là đến từ bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc; là tướng văn
(người đưa thư) sứ giả của Ngọc Hoàng… Giọng điệu đối thoại rất vui theo giọng
nói Quảng Đông. Tuần tự từ đạo sĩ thứ nhất cho đến đạo sĩ thứ tư. Kết thúc, vị
đạo trưởng Chủ tế cầm sớ đứng lên báo cáo với các thánh thần. Sau cùng bốn đạo
sĩ làm động tác như dắt bốn con ngựa đi thêm một vòng nữa rồi ra cổng hỏa mã
cùng với giấy tiền vàng bạc. Việc hóa mã mang ý nghĩa các sứ giả sẽ về báo cáo
lại với Ngọc Hoàng, các vị thần thánh về dự lễ làm chay tại miếu. Sau khi hóa
mã xong, đoàn hành lễ trở vào miếu, tiếp tục thắp nhang cúng các vị Tổ sư,
Thiên Hậu và Quan Công giống như buổi sáng để cầu an cho cộng đồng. Buổi tối,
các đạo sĩ tiếp tục tụng kinh cầu an tại rạp chay và các khám thờ trong miếu, đến
khoảng 22 giờ đêm thì kết thúc lễ Ngọ Môn Đáp Tướng.
c. Ngày thứ 3 (12 tháng 6 Âm Lịch) - Chánh lễ làm chay:
- Lễ khai bảng:
Lễ Khai bảng diễn ra lúc 8 giờ sáng. Để chuẩn bị cho lễ khai
bảng, người ta dán kim bảng lên khung tự chế ở rạp chay có diện tích khoảng
6m2. Chủ tế thắp ba cây nhang tụng kinh trước kim bảng.
Chủ tế làm nghi thức tẩy uế và khai quang điểm nhãn kim bảng
(các lễ vật tẩy uế giống như các nghi lễ trước). Vị Chủ tế đi từ phải sang trái
trước kim bảng vừa đọc kinh vừa đọc tên từng người trong kim bảng với ý nghĩa
cầu Tổ nghề và các thần ban phúc cho những ân nhân đã đóng góp tiền của cho
buổi lễ. Sau khi xướng tên xong những người có trong kim bảng, Chủ tế trở về
bàn hương án vái lạy tạ ơn, tung gạo xung quanh, một người phụ lễ đốt giấy vàng
bạc, tất cả mọi người thắp nhang vái lạy kết thúc lễ khai bảng (tùy thuộc vào
số người cúng phước sương, tự nguyện đóng góp của mỗi năm nhiều hay ít mà thời
gian kết thúc lễ khai bảng khác nhau, thường thì khoảng 10 giờ).
- Hội thỉnh lồng đèn:
Trước đây vào dịp lễ làm chay, sau khi lễ khai bảng xong,
khoảng từ 10 giờ đến 12 giờ trưa, tại sân ngoài của miếu thường có tục bán đấu
giá đèn lồng, số lượng 9 cái với hình thức ai đưa ra số tiền lớn sẽ thỉnh được
đèn (giống như các cuộc đấu giá trong các cuộc vận động làm từ thiện ngày nay.
Từ lễ làm chay năm 1995 đến nay, BTC lễ không còn tổ chức bán đấu giá đèn mà
thay vào đó là cho thỉnh đèn lồng. Hàng trăm chiếc đèn lồng lớn nhỏ, màu đỏ có
hình lục giác và tròn treo cùng với cờ trướng thành nhiều hàng dài, song song
tại sân miếu. Giá đèn lồng trung bình từ 100.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Giá
đèn cao thấp thùy thuộc vào kích thước và ý nghĩa các đèn: Thánh đăng (đèn của
bề trên): 2.000.000 đồng; Kim đăng (đèn cầu lộc, của cải): 1.000.000 đồng; Tài
đăng (cầu tài lực, việc làm): 700.000 đồng; Phước đăng (đèn cầu phước): 400.000
đồng; Bình an đăng (đèn cầu bình an): 200.000 đồng; một số đèn khác cầu sức
khoẻ có giá 100.000 đồng. Vào dịp này, trung bình BTC thỉnh được khoảng 500
chiếc đèn và cờ lớn nhỏ khác nhau.
Sau lễ Khai quang điểm nhãn, đến ngày hôm sau những ai có
nhu cầu không kể là người Hoa hay Việt, già trẻ, gái trai đều có thể đến miếu
thỉnh đèn và cờ. Số tiền thỉnh đèn, cờ không quy định giá cụ thể mà tùy theo
khả năng của người thỉnh có thể từ vài chục ngàn đến vài chục triệu đồng. Nếu
ai ít tiền thì thỉnh được đèn lồng nhỏ, tròn; nhiều tiền thỉnh được đèn lớn,
hình lục giác…miễn là ai cũng có đèn (lộc của Tổ và Thần) về nhà chứ không
giống như nghi thức đấu giá đèn ngày hôm trước chỉ có người nhiều tiền mới
thỉnh được đèn.