TIẾNG VIỆT
  中文
 
 
   
 
      TIN TỨC & SỰ KIỆN      
 
   
 
Hoạt động hội miếu
Kiến trúc - Nghệ thuật
Lịch sử - Văn hóa
Kế hoạch Trùng tu
Danh sách Ủng hộ trùng tu
 
 Tin tức ( 新闻 ) : 18
Online ( 在线 ) : 15
Lượt xem ( 旅客 ): 4815
 
 » Chi tiết tin
Khảo tả đôi nét về miếu Tổ Sư

Miếu Tổ sư tọa lạc trong một khu đất tương đối bằng phẳng, rộng 2.836.6m2. Mặt tiền quay theo hướng Tây Bắc, nhìn ra Tỉnh lộ 24 (đường đi Tân Triều - Vĩnh Cửu) và sông Đồng Nai đón gió lành. Mặt sau miếu dựa vào núi Long Ẩn (hướng Đông), bên trái (hướng Bắc) giáp khu Danh thắng Bửu Long, bên phải (hướng Nam) giáp nhà dân. Miếu thuộc tổ 30, khu phố 5, phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa. Đây là ngôi miếu có địa thế phong thủy đẹp (mặt hướng ra sông Đồng Nai, lưng dựa núi Long Ẩn). Miếu có hai cổng ra vào (nhị cổng), thường gọi là cổng ngoài và cổng trong.

Cổng ngoài còn gọi là cổng Tam quan, tuy không có cánh cửa nhưng có kiến trúc rất đẹp. Chiều cao nơi cao nhất là 6m, rộng 6,1m (cả ba lối vào), được tạo dựng bởi 4 cột vuông, chia thành ba lối vào. Lối vào chính giữa được tạo dựng bởi hai cột cao trên 4m xây chất liệu xi măng, gạch thẻ, mặt ngoài ốp 33 hàng đá xanh; hai lối còn lại (lối phụ) được tạo dựng bởi hai cột thấp hơn (khoảng 3.5m) bằng xi măng, gạch thẻ, mặt ngoài ốp 20 hàng đá xanh. Mái cổng lợp ngói âm dương ống ngõa men xanh có trang trí hoa văn hình lá bồ đề ở đường riềm mái. Trên nóc mái là hệ thống kiến trúc đá rất độc đáo, với cặp lưỡng long chầu mặt trời tượng trưng cho mưa thuận gió hòa và cặp cá hóa long tượng trưng cho sự thành đạt. Mặt trước cổng đề 3 dòng chữ Hán màu vàng: chính giữa là Thiên Hậu cổ miếu, bên trái là Thiên hạ thái bình và bên phải là Như sở đề an. Ngoài công dụng là nơi ra vào, cổng Tam quan còn là điểm nhấn thị giác cho du khách mỗi khi ngang qua đã biết đây là cơ sở tín ngưỡng của người Hoa.

Phía trong cổng Tam quan là khoảng sân rộng, diện tích 1.419m2. Sân được trồng một số cây cổ thụ như: bồ đề, phượng, bàng… quanh năm tỏa bóng mát. Sân này còn gọi là sân ngoài để phân biệt với sân trong trước mặt miếu. Cứ mỗi dịp diễn ra việc cúng lễ, đặc biệt là Lễ hội làm Chay, sân ngoài lại rộn rã tiếng trống múa lân sư rồng; lộng lẫy với sân khấu ca cổ, hào hứng với nghi thức thỉnh đèn lồng; ấm cúng, quây quần với hàng trăm bàn tiệc chay thiết đãi thực khách…

  Từ cổng ngoài đi theo con đường mòn rải đá mi dài khoảng 50m, rộng 5,8m là đến cổng trong. Cổng trong là cổng phụ được xây dựng để ngăn cách giữa sân ngoài với nơi thờ tự (Miếu Tổ sư). Cổng trong thiết kế đơn giản, được tạo dựng bởi hai cột xây gạch thẻ, xi măng vuông (cạnh 40cm x 40cm) ngoài ốp 25 hàng đá xanh, trước hai trụ cột phía ngoài có đặt hai con kỳ lân bằng đá để chắn giữ không cho tà ma vào quấy phá miếu, cổng có kích thước (rộng 4m, cao 2,5m), được thiết kế với hai cánh cửa sắt thông thoáng sơn màu đỏ, vàng. Đây là màu đặc trưng của các công trình kiến trúc tôn giáo Trung Hoa. 

Qua khỏi cổng trong là đến sân trong của miếu. Sân trong thấp hơn sân ngoài 20cm được ngăn cách bởi hệ thống tường đá và tường gạch (nơi cao nhất là 3m và thấp nhất là 1m2). Sân trong có diện tích 344.2m2, nền láng xi măng. Cứ vào dịp Lễ hội làm Chay, sân trong lại nguy nga, lộng lẫy với những sắc màu rực rỡ bởi một điện thờ với bàn hương án đặt trên bục gỗ khoảng 36m2 ở chính giữa sân, đây là nơi diễn ra các nghi thức tế lễ. Những ngày thường, giữa sân đặt một lư hương; bên trái là hồ cảnh, giữa hồ dựng bàn thờ Thiên quang tứ phước, trên mặt hồ là những cánh sen luôn khoe sắc và đọng lại những hạt sương long lanh của mỗi sớm bình minh, tỏa hương thơm ngào ngạt, tinh khiết, trong sáng và ấm cúng giữa chốn linh thiêng. Bên phải sân là bàn thờ thổ địa, được làm bằng đá. Sân trong tạo dựng nhà vòm với 14 cột sắt sơn đỏ, hình tròn, rỗng có đường kính 20cm. Nhà vòm có mái kiểu chồng diêm (hai tầng) tầng trên rộng hơn tầng dưới khoảng 50cm, lợp tôn giả ngói sơn xanh. Các đầu mái được trang trí rồng cách điệu uốn cong tạo sự thanh cao, trong sáng và luôn hướng tới điều tốt lành. Mặt tiền nhà vòm có đề tên các vị được thờ tại ba gian Chánh điện bằng chữ Hán màu trắng sắp xếp theo thứ tự từ trái sang phải: Thiên Hậu Thánh Mẫu, Tiên Sư Tổ Miếu, Quan Thánh Đế Quân. Hệ thống vì kèo, xà ngang của nhà vòm được sơn đỏ, treo những khoanh nhang hình nón tạo sự linh thiêng và ấm cúng, gần gũi giữa con người với chốn linh thiêng. Từ sân, nhìn tổng thể ngôi miếu ta dễ dàng nhận ra đây là ngôi miếu của người Hoa, bởi điểm nổi bật là lối kiến trúc đồ sộ của ba tòa nhà với các bức phù điêu gốm trên nóc mái sắc xảo, màu sắc rực rỡ mang nét đặc trưng văn hóa của người Trung Hoa.

Miếu Tổ sư gồm ba tòa nhà riêng biệt nhưng liên kết với nhau bởi bố cục mặt bằng theo kiểu “nội Công ngoại Quốc” () gồm một tòa nhà chính giữa gọi là điện thờ chính bao gồm: Tiền điện, Trung điện và Hậu điện hình chữ Công (), hai dãy nhà bao quanh là nhà khách, nhà bếp và nhà thờ các vị tiền bối hình chữ Khẩu (). Miếu Tổ sư là ngôi miếu duy nhất ở Đồng Nai được xây dựng bằng vật liệu hoàn toàn bằng đá xanh Bửu Long, từ lan can, cột, vách, khuôn cửa, bậc thềm, các khám thờ, hàng rào đến cổng. Mái miếu lợp ngói âm dương ống ngõa màu xanh lưu ly.

* Điện thờ chính (Tòa nhà chính giữa):

Đây là nơi thờ phụng chính của miếu với tổng diện tích là 155,6m2 (18.53m x 8.4m). Điện thờ có mặt bằng dạng chữ Công () gồm ba gian (gian ngoài là Tiền điện thờ Phước đức lão gia; giữa là gian Trung điện (còn gọi là Thiên Tỉnh) thờ trời, đất; trong cùng là gian Hậu điện thờ Tam vị Tổ sư, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân).

- Tiền điện: Tiền điện cũng là mặt trước của miếu, có diện tích 39,5m2. (4.71m x 8.4m), là dạng nhà ba gian hai mái ngang, lợp ngói âm dương tiểu đại hay còn gọi là ống ngõa, cuối mái có đường riềm hình lá bồ đề và hoa văn dây leo màu xanh. Đây là kiểu mái đặc trưng của những công trình kiến trúc tín ngưỡng Trung Hoa.

Trên nóc Tiền điện cũng là mặt trước của mái miếu là một công trình nghệ thuật đặc sắc với hàng trăm tiểu tượng người, vật... bằng gốm men xanh thể hiện các lễ hội, tuồng tích tiêu biểu của người Trung Hoa như: cảnh hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tập võ, đá cầu, tiên đồng, ngọc nữ, phù điêu mai, lan, trúc, cúc; 01 cặp lưỡng long tranh châu; một cặp cá hóa long đuôi vểnh lên cao tượng trưng cho sự giàu có. Phía sau các bức phù điêu (mặt bên trong) cũng được trang trí các mảng đề tài hoa điểu bằng gốm men xanh nhìn rất sống động và mềm mại. Các tác phẩm gốm trên bờ nóc mái là sản phẩm gốm men xanh (gốm Cây Mai) do lò gốm Bảo Nguyên ở Sài Gòn (Gia Định) sản xuất năm Quang Tự 20 (năm Giáp Ngọ - 1894). Ở mặt tường gần giáp mái, hai bên đầu hồi miếu có trang trí hình dơi ngậm mâm trái cây đắp bằng đá, ở giữa mâm có chữ Phúc, biểu hiện tước lộc, giàu sang. Bên trái phía dưới hai bờ mái trước miếu có tượng ông Nhật và bên phải là tượng bà Nguyệt làm bằng gốm men xanh (tượng bà Nguyệt bị mất cắp, Ban Trị sự miếu đã làm lại bằng xi măng). Dưới bờ riềm mái ngói là các tác phẩm điêu khắc gỗ chạm nổi các đề tài: cúc điểu, sen điểu, bát bửu, nai lân... Đây là những tác phẩm gốm và điêu khắc gỗ rất đẹp, đặc sắc và có giá trị nghệ thuật rất cao.

Tiền điện được bao bọc ba mặt (trước và hai bên tả hữu) là bức tường xây bằng đá, mặt sau không có tường, ăn thông sang Trung điện tạo sự thông thoáng, mát mẻ, và liên hoàn không gian nội thất với nhau. Tiền điện được tạo dựng bởi hai hàng 04 cột (hai cột vuông bằng đá ẩn tường phía trước hành lang và hai cột gỗ tốt ở phía trong). Cột gỗ hình tròn, sơn đỏ, có chiều cao 3m90, đường kính 45cm, trên cột khắc liễn đối màu vàng, dưới chân cột kê trên đế bằng đá tiện tròn để tạo dáng và ngăn sự xâm hại của mối mọt. Đầu hai cột gỗ được nối với hai vì kèo hình chữ nhật bằng gỗ thẳng sang tường có chức năng đỡ toàn bộ mái Tiền điện. Toàn bộ hệ thống xà cột tuy không chạm khắc gì nhưng được sơn đỏ nhìn rất chắc chắn, sống động và sự linh thiêng. Đặc biệt là hệ thống các đầu củng dựa trên đầu cột làm chức năng kết cấu đỡ mái ra xa chân cột khá độc đáo. Giữa hai cột đối diện với cửa ra vào tạo thành một cửa khá lớn, có hai cánh cửa gỗ sơn màu đỏ. Theo quan niệm của người Trung Hoa, cửa này có ý nghĩa che chắn bảo vệ nơi thờ tự linh thiêng nhất của miếu. Phía trên cửa là bức hoành phi cổ kính bằng gỗ khắc chữa Hán: Ngọc tái hoài xuân, xung quanh chạm trổ rồng, dây lá rất đẹp.

Bước vào Tiền điện phải qua bậc tam cấp và hành lang còn gọi là tiền sảnh rộng khoảng 3m chạy suốt chiều ngang mặt tiền miếu. Hành lang được tạo dựng từ nền, cột đến tường hoàn toàn bằng đá xanh thô Bửu Long. Hành lang có mái được tạo dựng bởi 02 cột hình vuông (cạnh 27cm x 27cm, cao 3m26). Đặc biệt là hệ thống bán vì kèo ở hành lang khá độc đáo. Đối xứng nhau ở hai bên cửa ra vào có các thanh xà ngang (còn gọi là Côn Sơn) cạnh vuông (20cm x 20cm) bằng đá được đỡ bởi những thanh chống đứng hình khối chữ nhật. Toàn bộ trọng lượng của mái lần lượt được truyền qua các Côn Sơn và khối chống đứng. Côn Sơn cuối cùng một đầu gác lên cột đá, một đầu gác vào tường chịu toàn bộ trọng lượng phần mái Tiền điện. Hình thức vì kèo này có tên gọi là “chồng đấu” - một hình thức kết cấu mang đặc tính kiến trúc cổ Trung Hoa. Đặc biệt, trên các thanh Côn Sơn được trang trí, chạm khắc các đề tài dây lá, cúc, đào, lựu, cảnh rước lọng cung đình, Quan Công phò nhị tẩu, tất cả đều làm bằng đá. Những nét chạm khắc tài hoa của những người thợ đá làm chúng ta dễ dàng quên đi sự sáo mòn của đề tài, quên đi cả công năng chịu lực của vì kèo, thậm chí ngay sự cứng rắn của những phiến đá xanh nặng nề, thô kệch dường như cũng mềm mại trước những dụng cụ chạm khắc, tất cả các đề tài trên đã tạo cho du khách một sự sửng sốt đến khâm phục bởi sự tài hoa, khéo léo đến không ngờ của những bàn tay tài hoa người thợ bản địa. Trên hai thanh ngang bằng đá ở sảnh đặt hai con sư tử bằng đá trông rất ngộ nghĩnh và oai nghiêm. Nền hành lang lót đá thô nguyên tảng rất bền vững. Hành lang được chia thành ba phần (ba gian) bằng nhau, gian chính giữa (trước cửa ra vào) có treo một bức ghi môn bằng gỗ đề tài Lục quốc phong tướng với những đường nét chạm khắc khỏe khoắn, sắc xảo, diễn tả cảnh múa hát cung đình rất sống động, mang tính nghệ thuật cao.

Qua khỏi tam cấp là đến cửa (đây cũng là cửa chính ra vào miếu). Khung cửa làm bằng đá xanh nguyên khối (rộng 1m16, cao 2m40), hai cánh cửa bằng gỗ sao sơn đỏ (cao 2m40, rộng 50cm, cánh cửa dày 5cm), trên hai cánh cửa có đề chữ Hán Văn Thừa Võ Úy (quan Văn, quan Võ ngày xưa). Trên hai cột đá hình vuông sát cửa (30cm x 30cm, cao 2m40), khắc chìm cặp liễn đối chữ Hán, sơn đỏ với nội dung tôn vinh các vị Tổ nghề:

Sáng bá nghệ nguyên lưu tượng tâm độc vận,

Thùy thiên thu thằng mặc sư thị hàm tôn.

(Tạm dịch: Tổ sư đã sáng tạo ra trăm nghề là cái nguồn cho những người thợ giỏi; Tổ sư là những người dùng dây búng mực, đào tạo những bậc thầy từ ngàn năm qua, chúng ta phải biết tôn trọng).

Phía trên cửa là hoành phi bằng đá khắc chữ Hán màu đỏ Tiên sư tổ miếu, bên trái đề năm trùng tu miếu (năm Quang Tự thứ 20 - tức năm Giáp Ngọ 1894). Đặc biệt, trên tường sát mái miếu có bức tranh vẽ sơn đen diễn tả cảnh sông núi, dây lá ẩn hiện những bài thơ bằng chữ Hán viết thảo tạo vẻ sang trọng nhưng uyển chuyển, cổ kính như dẫn dắt du khách đến nơi thanh nhàn cực lạc quên đi mọi ưu phiền. Có thể nói, người Hoa đã dùng vật liệu đá xanh Bửu Long để xây dựng Miếu Tổ sư không chỉ vì đá là vật liệu bền chắc, sẵn có ở địa phương và nhớ ơn Tam vị Tổ nghề mà theo quan niệm từ thời xa xưa người ta đã coi đá là một vật linh thiêng, có khả năng chuyển tải sinh khí nên một số nhà nghiên cứu về văn hóa kiến trúc cổ truyền nhìn thấy các kiến trúc thờ bằng đá một không gian thiêng liêng, nơi của thánh thần, một ranh giới phân định giữa cõi thiêng liêng và cõi tục.

Nội thất Tiền điện (tính từ cửa ra vào): bên trái trái đặt một đại hồng chung có niên đại thời nhà Thanh (1889), lò đốt nhang đèn bằng gang có niên đại Quang tự 17 (Tân Mão - 1891) và một trống da lớn nằm trên đế gỗ sơn đỏ; bên phải là bàn thờ bằng đá xanh có kích thước cao 2m, ngang 1.5m chạm khắc tinh xảo hình dây lá, lưỡng long tranh châu, trên đặt bát hương, mâm trái cây… tượng Phước Đức lão gia đều bằng đá đánh bóng kỹ thuật hiện đại rất sắc xảo. Hiện vật này do một gia đình người Hoa sống ở Canada cúng dường năm 2006. Trên bờ tường bên phải Tiền điện treo một bảng chữ Hán khắc trên gỗ sơn đen ghi tên những người đã đóng góp tiền của trùng tu ngôi miếu được làm vào năm 1967.

Tuy nội thất Tiền điện không có gì đặc biệt nhưng Tiền điện lại thu hút du khách bởi kiến trúc ngoại thất. Công trình kiến trúc gốm trên bờ nóc mái rất đặc sắc, thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân. Đây cũng chính là điểm nhấn thị giác cho du khách trước khi chiêm bái toàn bộ ngôi miếu.

- Trung điện: Còn gọi là sân Thiên tỉnh hay Giếng trời, là nơi thờ trời và đất nằm chính giữa Tiền điện và Hậu điện có diện tích 47,1 m2 (5.61m x 8.4m). Trung điện là căn nhà ba gian chỉ có hai bức tường tả hữu, mặt trước không có tường bao che mà thông với Tiền điện, mặt sau thông sang Hậu điện. Trung điện có mái kiểu bánh ít (hai mái chính, hai mái phụ), lợp ngói âm dương ống ngõa tráng men xanh, phía dưới trang trí đường riềm hoa văn hình lá bồ đề. Trên bờ nóc mái không trang trí gì, xung quanh mái đều thông thoáng, lộ thiên, đón nhận được nhiều ánh sáng từ thiên nhiên. Theo quan niệm của người Hoa, đây là nơi giao hòa giữa trời, đất (âm, dương) nơi hội tụ những tinh tuý, may mắn nhất của trời đất mang lại cho con người. Mái Trung điện thấp hơn mái Tiền điện và Trung điện tạo cho hệ thống mái miếu Tổ sư chỗ thấp, chỗ cao (trùng thiềm điệp ốc) gây ấn tượng cho người thưởng lãm. Nền Trung điện có cấu tạo thấp hơn so với các gian khác khoảng 20cm, lót gạch men xanh. Ở giữa là hai tấm đan bằng đá xanh trang trí hoa văn, có thể mở nắp dễ dàng, phía dưới là hệ thống thoát nước cho toàn mái sau Tiền điện và mái trước Trung điện. Trung điện được tạo dựng bởi hai hàng bốn cột đá vuông (kích thước cao 4m20, cạnh 27cm x 27cm). Trên mỗi cột đều treo liễn đối chữ Hán, phía trên xà ngang là các bức hoành phi bằng gỗ nền đen chữ vàng nội dung hướng đến sự tốt lành cho cả người Hoa và Việt. Ở tường bên tả Trung điện có cửa gỗ thông sang nhà thờ các vị tiền bối, kho nhang đèn có kích thước (ngang 90cm, cao 1m76), trên cửa treo bức hoành phi: Thiên cổ nhất nhân (tạm dịch: từ ngàn năm nay chỉ có một người - Quan Vũ). Bên hữu Trung điện là cửa thông sang nhà khách, bếp, có kích thước bằng bên tả, bên trên là bức hoành phi: Hải quốc trường xuân (tạm dịch: Hải quốc (Việt Nam) luôn luôn tươi như mùa xuân). Cạnh cửa bên phải có đặt 01 bộ bàn uống nước bằng đá xanh, dùng làm nơi tiếp khách trong những ngày thường. Nhìn chung, Trung điện là nơi thờ trời và đất nên sự bày trí ở đây đơn giản, không có gì nổi bật.

- Hậu điện: Ở phía sau Trung điện, có nền cao hơn Trung điện khoảng 20cm. Hậu điện là nơi thờ Tam vị Tổ sư (Mộc, Đá, Rèn), bên trái thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, bên phải thờ Quan Thánh Đế Quân.

Hậu điện có diện tích 69m2 (8.21m x 8.4m) là căn nhà ba gian, được dựng bởi 02 hàng 06 cột (04 cột hình vuông bằng đá có kích thước: cao 4m76, cạnh 30cm x 30cm); 02 cột gỗ hình tứ giác sơn đỏ, kích thước 4m76, đường kính 45cm), chân cột kê trên đế đá hình vuông để chống mối mọt. Nền lót gạch hoa màu xanh, trắng. Hậu điện gồm hai mái lợp ngói âm dương ống ngõa men xanh, trên bờ nóc trang trí lưỡng long tranh châu tượng trưng cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đối xứng hai bên là cặp cá hóa rồng tượng trưng cho sự giàu sang. Tường Hậu điện xây bằng đá dày 40cm rất chắc chắn, bền vững. Hậu điện không có cửa sổ, ba mặt là tường xây kín, mặt trước ăn thông với Trung điện, do vậy không gian nơi đây rất kín đáo, mờ ảo kết hợp với khói hương nghi ngút bao phủ các bức hoành phi, liễn đối, hoa văn chạm trổ và các khám thờ tạo cho du khách có cảm giác như đang lạc vào chốn linh thiêng; lòng tin về thần thánh như được nhân lên, giúp con người hướng thiện, tránh điều tà, điều ác trong cuộc sống thường nhật. Đặc biệt, Hậu điện được bài trí các điện thờ, hoành phi, liễn đối, bao lam địa võng do các nghệ nhân dân gian chạm trổ tinh vi, sắc xảo mang tính nghệ thuật cao. Nội dung các bức hoành phi, câu đối phần lớn ca tụng về tài đức của các vị Tổ làm nghề đá, nghề mộc, nghề rèn và nhắc nhở những người làm nghề đá cẩn thận giữ lấy nghề với tâm chính đức độ... Đề tài trang trí trên các bao lam như: lưỡng long tranh châu, cửu long tranh châu, tứ linh tượng trưng cho hạnh phúc, phồn vinh, tước lộc, công hầu theo phong tục của người phương Đông. Bộ khung, vì kèo ở Hậu điện mang đậm kiến trúc Trung Hoa theo lối: “chồng rường, giá chiêng”. Tuy không có chạm khắc, trang trí gì nhưng được sơn đỏ làm cho bộ khung, vì kèo nhìn rất khỏe khoắn,  cổ kính và linh thiêng.

Nội thất Hậu điện chia làm ba gian, gian giữa thờ Tam vị Tổ sư: chính giữa là ông Ngũ Đăng - vị Tổ nghề Đá; bên phải thờ ông Lỗ Ban - vị Tổ nghề Mộc; bên trái thờ ông Uất Trì Cung - vị Tổ nghề Rèn. Tượng tư thế ngồi trên ngai (cao 1,05m, ngang 60cm), tay phải cầm kiếm bằng sắt dài 70cm. Áo trang trí hoa văn theo kiểu quan võ, bên ngoài khoác xiêm y thêu kim tuyến đính kim sa hình rồng, phượng với đủ màu sắc. Các bức tượng được tạc bằng đá thô Bửu Long có niên đại từ khi thành lập miếu đặt trong khám thờ bằng đá xanh, có kích thước cao 3,5m, ngang 2,20m; xung quanh chạm khắc đề tài rồng chầu mặt trời, dây leo, hoa lá, chim điểu, tùng, cúc, trúc mai… với đường nét sắc xảo, thể hiện tài năng đến không ngờ của các nghệ nhân làng đá Bửu Long. Hai bên khám thờ là cặp liễn đối được khắc chìm trong đá, dát vàng lá với nội dung:

Diệu thủ tu thành kim bửu điện;

Tinh công xảo tạo ngọc long lâu.

(Tạm dịch: Bàn tay khéo léo của Tổ sư đã xây dựng ngôi điện vàng ngọc; Việc làm tinh xảo, xây dựng khéo léo tạo nên ngôi miếu xinh đẹp như con rồng bằng ngọc).

Phía trước khám là bệ thờ bằng đá, bên trên đặt bát nhang, bình bông, đèn thờ dạng “thất tinh”.

Gian bên tả thờ Quan Thánh Đế Quân và hai phụ tá của ông là Châu Xương và Quan Bình, tượng làm bằng xi măng. Tượng Quan Công cao 1,1m, ngang 40cm, tư thế ngồi trong ngai, tay phải cầm kiếm dài 70cm, tay trái vuốt râu trông rất uy phong; tượng Châu Xương, Quan Bình đứng hai bên (cao 95cm, ngang 27cm). Các bức tượng đều được khoác xiêm y rồng phượng lộng lẫy với đủ màu sắc. Tượng đặt trong khám thờ bằng đá có kích thước cao 3m, ngang 2m xung quanh chạm khắc đề tài rồng chầu mặt trời, dây leo, hoa lá, chim điểu, tùng, cúc, trúc mai…. Hai bên khám là cặp liễn đối dát vàng lá khắc chìm trong đá, nội dung ca ngợi công lao và tình nghĩa của Quan Thánh Đế Quân đối với các bậc tiền nhân cùng thời:

Nghĩa lẫm nhất tâm phò Hán đỉnh,

Thần lưu thiên cổ ngưỡng đào viên.

(Tạm dịch: Cái nghĩa lẫm liệt (của Quan Vũ) một lòng phò hộ cho nhà Hán; Cái khí (của Quan Vũ) đã lưu danh ngàn năm khiến người ta rất ngưỡng mộ tình nghĩa chốn đào viên).

Phía trước khám là bệ thờ bằng đá, bên trên đặt bát nhang, bình bông, đèn thờ dạng “thất tinh” giống như gian thờ Tam vị Tổ nghề.

Gian bên hữu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và hai nữ hầu. Các pho tượng làm bằng xi măng; tượng Bà Thiên Hậu tư thế ngồi trong ngai (cao 1,1m, ngang 36cm), hai nữ hầu đứng hai bên (cao 90cm, ngang 22cm). Các pho tượng đặt trong khám đá có kích thước bằng khám thờ Quan Công. Tượng được khoác những bộ xiêm y đủ màu sắc lộng lẫy, đầu đội mũ vàng, trang trí hình đuôi công, đính kim tuyến. Phía trước khám cũng là bệ thờ bằng đá, bên trên đặt bát nhang, bình bông, đèn thờ dạng “thất tinh”. Hai bên khám là cặp liễn đối chữ Hán dát vàng lá khắc chìm trong đá với nội dung:

Vạn phái hồi lan y hậu đức,

Thiên thu trứ tự tụng từ hàng.

(Tạm dịch: Mọi người nhớ ơn Bà Thiên Hậu đã chống đỡ làn sóng dữ và nguyện noi theo cái Đức của bà; Vì vậy mọi người cùng xây dựng lên đền thờ để ca tụng chiếc bè từ của bà).

Tóm lại, Hậu điện là nơi thờ chính của miếu nên có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật được bày trí ở đây. Các khám thờ ở đây mang giá trị nghệ thuật rất cao. Đứng trước các khám thờ, người xem sẽ cảm nhận đến từng đường nét chạm khắc hoa văn, nét chữ; lại có cảm giác như đang lạc giữa chốn bồng lai, tiên cảnh bởi sự lung  linh, huyền ảo của nhiều gam màu nhẹ nhàng phát ra từ những ngọi đèn đủ màu sắc trong các khám thờ.

* Nhà thờ các vị tiền bối (Tòa nhà bên trái): trưng bày các hình ảnh hoạt động của miếu và một phần sử dụng làm kho.

Từ sân trong của miếu đi qua một cửa sắt màu đỏ có kích thước (1,1m x 2,06m), phía trên có dòng chữ Hán Như sở đề an vào Nhà thờ các vị tiền bối. Đây là dãy nhà ngang ba gian diện tích khoảng 87.9m2. Hai mái lợp tôn giả ngói, màu đỏ nâu, nền lát gạch bông, tường xây bằng đá xanh, dày 40cm. Toàn bộ mặt trước Nhà tiền bối để trống, không có cánh cửa, quay mặt vào tòa nhà chính giữa  thông sang Trung điện qua hành lang rộng 3m và một lối nhỏ. Phía trên các cột là hệ thống bao lam gỗ sơn màu giả đồng trang trí đề tài chim muông, cây cỏ, hoa lá…. Ba gian có kích thước bằng nhau (29.3m2). Gian ngoài cùng (sát sân) được ngăn cách với hai gian trong bởi bức tường đá dày 40cm, có một lối đi nhỏ cánh cửa bằng gỗ, sơn màu đỏ thông qua, nơi đây được sử dụng làm kho nhang đèn. Hai gian trong thông thoáng với nhau. Ở chính giữa tường gian cuối cùng đặt bàn thờ các vị tiền bối có công đóng góp tiền của trùng tu ngôi miếu bằng đá. Trên tường hai gian đều trưng bày hình ảnh hoạt động của miếu, đặc biệt là những hình ảnh về Lễ hội làm Chay.

* Nhà khách và nhà bếp (Tòa nhà bên phải):

Từ sân trong của miếu đi qua một cửa sắt sơn đỏ có kích thước như cửa nhà thờ các vị Tiền bối, phía trên cửa có dòng chữ Hán Thiên hạ thái bình bước vào nhà khách và nhà bếp. Căn nhà có diện tích khoảng 251.6m2, kiến trúc giống hệt nhà thờ các vị Tiền bối. Đây cũng là dãy nhà ngang gồm ba gian, tường xây bằng đá xanh Bửu Long, dày 40cm, hai mái ngang lợp tôn giả ngói màu đỏ nâu, bộ khung vì kèo bằng sắt sơn đỏ, nền lót gạch men xanh, trắng. Cũng như nhà thờ các vị Tiền bối, toàn bộ mặt trước nhà khách và nhà bếp để trống, không có cánh cửa, quay mặt vào điện thờ chính thông qua Trung điện bằng một hành lang rộng khoảng 3m. Mặt trước nhà là hệ thống bao lam bằng gỗ sơn giả đồng, trang trí họa tiết chim muông, cây cỏ, hoa lá….Gian ngoài cùng (sát sân) ngăn cách bởi tường đá được sử dụng làm nhà bếp, hai gian còn lại được sử dụng làm nhà khách. Nơi đây dùng để tiếp đón khách trong những ngày lễ trọng đại của miếu.

* Lớp học Sùng Đức:

Nằm sát nhà thờ các vị Tiền bối (hướng Nam), quay mặt ra sân trong của miếu, lớp học được xây dựng theo kiểu nhà ống (nhà cấp 4), có diện tích 188.3m2 (21.4m x 8.8m). Tường xây gạch thẻ, xi măng tô đá rửa, mái lợp tôn. Lớp học được thiết kế với 1 cửa xếp ra vào bằng sắt (4m x 6.5m) và 1 cửa sổ bằng gỗ sơn màu xám; nền lót gạch hoa. Đây là nơi để dạy cho con em người Hoa bang Hẹ học tiếng Hoa. Đến nay lớp học vẫn duy trì và thu hút cả những người gốc Việt có nhu cầu học tiếng Hoa.


  .....................................................................................................
   » Di tích Lịch Sử - Kiến trúc Nghệ thuật MIẾU TỔ SƯ
   » Vài nét về người Hoa bang Hẹ và làng nghề điêu khắc đá ở Bửu Long
   » Theo dấu tiền nhân - Đục đá xây thành phố
   » Danh sách mạnh thường quân ủng hộ trùng tu Chánh điện Giai đoạn một
   » Lịch sử xây dựng, trùng tu và đối tượng thờ cúng Miếu Tổ Sư (phần 1)
   » Hạng mục đã trùng tu năm 2010
   » Danh Sách Mạnh Thường Quân Ủng Hộ Trùng Tu Chánh Điện Giai Đoạn II
   » Lễ hội miếu Tổ sư ( phần 1 )
   » Lịch sử xây dựng, trùng tu và đối tượng thờ cúng Miếu Tổ Sư (phần 2)
   » Dấu ấn người Hoa ở Đồng Nai ( Phần 1 )
Trang : 1 | 2
 
 

BAN TRỊ SỰ MIẾU TỔ SƯ BỬU LONG

Huỳnh Văn Nghệ - Tổ 30 - Khu Phố 5 - P. Bửu Long - Biên Hòa - Đồng Nai
Hotline: 0919 752 076 ( Trương Lâm Thủy Hội Trưởng )
Hotline: 0913 113 996 ( Phan Kim Sơn Tài Chính )
Hotline: 0913 610 343 ( Lý Minh Chiến Phó Tài Chính )

 
Coppyright © 2010 www.mieutosubuulongvn.com .All right reserved
Developed by APH Co.,ltd